CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ 1. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ 1. Khái niệm về Bảo hiểm y tế Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tập trung - quỹ bảo hiểm- nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố. Bảo hiểm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường.
Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra. Bảo hiểm là một cách thức trong quản trị rủi ro, thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro, được sử dụng để đối phó với những rủi ro có tổn thất, thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng,. Bảo hiểm được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm. Bảo hiểm là hình thức chuyển giao rủi ro.
Mua bảo hiểm thực chất là mua sự an tâm, là đổi lấy cái sự không chắc chắn có khả năng xảy ra thiệt hại bằng sự chắc chắn thông qua việc bù đắp bằng tài chính. Dưới giác độ pháp lý, luật của Việt Nam quy định: Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này. Trích khoản 1 điều 2 Luật số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT số 46/2014/QH13 ngày 13/06/2014 thì: “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện” [Trích Khoản 1 điều 1 Luật 5 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT].
Khi nói đến BHYT là nói đến BHXH về y tế, là loại hình bảo hiểm của Nhà nước quản lý mang tính chất xã hội không vì lợi nhuận hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả trong khám chữa bệnh. Trong đề tài này, quan niệm: Bảo hiểm y tế là một chính sách mang ý nghĩa nhân văn và tiến bộ được thể chế hóa bằng Luật bảo hiểm nhằm kêu gọi sự tham gia của các nhân, tổ chức xã hội trong công cuộc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho con người. Phân loại BHYT 1. Phân theo tính chất Phân theo tính chất, BHYT được chia thành 2 nhóm đó là: BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện.
Bảo hiểm y tế bắt buộc: “Là hình thức bảo hiểm y tế mà các đối tượng được xác định trong Luật có trách nhiệm tham gia.” Tiêu chí để định mức phí BHYT thường được tính theo tỷ lệ % thu nhập của người tham gia bảo hiểm và việc hưởng chế độ BHYT dựa trên sự kiện pháp lý (ốm đau, tai nạn, thai sản….) theo quy định của pháp luật. Người có thẻ BHYT bắt buộc được hưởng chế độ BHYT khi khám chữa bệnh ngoại trú và nội trú gồm: khám bệnh, chẩn đoán và điều trị, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng, các thủ thuật, phẩu thuật, máu, dịch truyền; sử dụng vật tư thiết bị y tế, chi phí khám thai, sinh con…Được thanh toán toàn bộ chi phí KCB BHYT. Trường hợp sử dụng các dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn đƣợc thanh toán theo một tỷ lệ nhất định do pháp luật quy định. Người bệnh BHYT tự thanh toán các khoản chi phí vượt mức thanh toán tối đa theo quy định (trừ một số đối tượng nhất định).
Bảo hiểm y tế tự nguyện: “Là hình thức bảo hiểm do Nhà nước thực hiện không vì mục đích lợi nhuận. Người dân tự nguyện tham gia để được chăm sóc sức khỏe khi đau ốm, bệnh tật từ quỹ bảo hiểm y tế” Trong đề tài này, bảo hiểm y tế tự nguyện được hiểu như là một hình thức chăm sóc sức khỏe thông qua việc tự nguyện tham gia Bảo hiểm y tế tự nguyện theo luật BHYT. BHYT TN được xem như là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ 6 chức thực hiện không vì mục đích lợi nhuận nhằm kêu gọi, khuyến khích sự tham gia của người dân đặc biệt người dân nghèo vì mục tiêu chăm sóc sức khỏe và xóa đói giảm nghèo. Đề tài quan niệm BHYT như là hình thức chăm sóc sức khỏe cộng đồng do nhà nước thể chế hóa bằng luật BHYT không vì mục đích lợi nhuận nhằm mang lại sự công bằng và tiến bộ xã hội.
Từ các khái niệm trên, có thể thấy BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện có 3 điểm giống nhau căn bản là đều do Nhà nước đứng ra tổ chức, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận và mục đích chính là hướng đến công bằng và tiến bộ xã hội. Phân theo loại hình Bảo hiểm Theo loại hình, Bảo hiểm y tế được chia thành 2 loại: Bảo hiểm y tế xã hội và Bảo hiểm y tế thương mại. BHYT xã hội: mang tính xã hội, không vì mục đích lợi nhuận và được Nhà nước tổ chức thực hiện theo Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014. Mọi người dân phải bắt buộc tham gia BHYT theo Luật BHYT.
BHYT thương mại: bảo hiểm sức khỏe của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ, mang tính kinh doanh, hoạt động có lợi nhuận theo Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010. Hiện tại có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài triển khai loại hình BHYT này Hai loại BHYT này được thực hiện trên cùng một nguyên tắc là: có tham gia, đóng góp bảo hiểm thì mới được hưởng quyền lợi, không đóng góp thì không được hưởng quyền lợi. BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, hoạt động của cả hai loại hình bảo hiểm này đều nhằm để bù đắp tài chính cho các đối tượng tham gia bảo hiểm khi họ ốm đau, bệnh tật, gặp tai nạn…, cụ thể là người mua bảo hiểm sẽ được cơ quan bảo hiểm chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cũng như chi phí mua thuốc men điều trị. 7 Phương thức hoạt động của hai loại hình bảo hiểm này đều mang tính cộng đồng, lấy số đông bù số ít, nghĩa là dùng tiền đóng góp của số đông người tham gia để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người gặp phải các vấn đề về sức khỏe.
2 loại hình trên có những điểm khác nhau cơ bản như sau: Tiêu chí BHYT xã hội BHYT thương mại Dựa trên lợi nhuận, thông Hoạt động phi lợi nhuận và qua mức phí mà người Mục tiêu hoạt động nhằm mục đích an sinh xã hội tham gia BH đóng trong các hợp đồng BH Cơ quan BHXH phối hợp với Các tổ chức kinh doanh Cơ quan tiến hành UB nhà nước các cấp trong Bảo hiểm phạm vi quyền hạn của mình. Các tổ chức có tư cách Tất cả mọi người là người cư pháp nhân, các cá nhân có trú ở Việt Nam thuộc các Đối tượng tham gia đủ năng lực hành vi, năng nhóm đối tượng theo quy định lực pháp lý (những người của Luật BHYT trên 16 tuổi) Là những người tham gia Người có tên trên Hợp Người được bảo hiểm BHYT đồng Dựa trên mức thu nhập, mức Tùy thuộc vào nhu cầu và Mức đóng lương cơ sở theo quy định chung khả năng tài chính Theo thỏa thuận quyền lợi Theo quy định chung của Luật Mức hưởng quy định từ trước, tỷ lệ BHYT thuận với mức đóng Thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT với cơ sở khám, chữa bệnh theo hợp đồng chữa Trả trực tiếp cho người Phương thức thanh bệnh BHYT hoặc thanh toán được bảo hiểm hoặc người toán trực tiếp cho người có thẻ thụ hưởng BHYT đi khám theo quy định tại luật BHYT 1. Nguyên tắc Bảo hiểm y tế BHYT có 5 nguyên tắc cơ bản: - Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế. 8 - Mức đóng bảo hiểm y tế được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội (sau đây gọi chung là tiền lương tháng), tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương cơ sở.
- Mức hưởng bảo hiểm y tế theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi và thời gian tham gia bảo hiểm y tế. - Chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế do quỹ bảo hiểm y tế và người tham gia bảo hiểm y tế cùng chi trả. - Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ. Các nội dung cơ bản của Bảo hiểm y tế 1.
Đối tượng tham gia BHYT Theo quy định tại luật BHYT số 46/2014/QH13 sửa đối bổ sung một số điều của luật BHYT số 25/2008/QH12 đối tượng tham gia BHYT gồm những nhóm đối tượng sau: 1. Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, bao gồm: a) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi chung là người lao động); b) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật. Nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng, bao gồm: a) Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; b) Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng; c) Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng; 9 d) Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.