Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Chương 4: Giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1. Cơ sở lý luận về phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện 1. Lý luận chung về bảo hiểm xã hội tự nguyện 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội tự nguyện a.
Khái niệm bảo hiểm xã hội BHXH có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu và sự tồn tại của nó là tất yếu, đánh dấu một bước tiến quan trọng, đáp ứng nguyện vọng đông đảo người lao động, bảo đảm ASXH cho mỗi quốc gia và hội nhập quốc tế. Vào giữa thế kỷ XIX, Đức (dưới thời Thủ tướng Bismark) là quốc gia đầu tiên phát triển hệ thống BHXH trên thế giới. Sau đó, vào những năm 30 của thế kỷ XX, mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, các nước Mỹ Latin, Bắc Mỹ và Canada. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, bảo hiểm xã hội đã lan rộng sang các nước giành độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribe (Hoàng Mạnh Cừ, Đoàn Thị Thu Hương, 2011).
Ở nước ta, BHXH có từ thời kỳ phong kiến Pháp thuộc, xuất hiện vào những năm 30 của thế kỷ XX. Một số chế độ được áp dụng cho một số đối tượng làm việc, phục vụ trong bộ máy hành chính, quân đội của Pháp khi đó là chế độ ốm đau, chế độ tai nạn, chế độ hưu trí. Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Điều 14 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Những người công dân già cả hoặc tàn tật, không làm được việc thì được giúp đỡ…”. Nhà nước ban hành các sắc lệnh số 29-SL ngày 12/3/1947, Sắc lệnh số 76-SL ngày 20/5/1950, Sắc lệnh số 77-SL ngày 22/5/1950 quy định về quyền hưởng BHXH của NLĐ thông qua các chế độ cụ thể (Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2017).
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và sau khi đất nước thống nhất, các quy định của nhà nước về BHXH được ban hành và ngày càng được quy định cụ thể hơn. Tuy nhiên, pháp luật BHXH chưa được áp dụng theo nghĩa đầy đủ về mặt nội dung pháp lý cũng như xã hội do tình hình chính trị - xã hội phức tạp, những khó khăn về quỹ, về đối tượng tham gia và hưởng BHXH… Năm 1995 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong sự phát triển chính sách BHXH với việc triển khai thống nhất BHXH bắt buộc cho NLĐ trong mọi thành phần kinh tế và sự ra đời của tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam (BHXHVN). Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 quy định 6 thực hiện BHXH bắt buộc đối với công chức, công nhân viên chức nhà nước và NLĐ làm việc tại các DN. Đồng thời, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 thành lập BHXHVN trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam để giúp Chính phủ chỉ đạo công tác quản lý Quỹ BHXH và thực hiện thống nhất các chế độ, chính sách BHXH theo pháp luật.
Ngày 29/6/2006, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật BHXH số 71/2006/QH11. Đến ngày 20/11/2014, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật BHXH số 58/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Khái niệm BHXH hiểu theo nghĩa chung nhất “là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, NLĐ và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội” - Tổ chức Lao động quốc tế - ILO (1999). Khái niệm BHXH được ghi trong Điều 3, Luật BHXH số 58/2014/QH13 như sau: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2014).
Khái niệm bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXHTN là một loại hình BHXH do Nhà nước ban hành để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự tự nguyện đóng góp một phần thu nhập của NLĐ, người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ và cho gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội (Lưu Bích Ngọc, 2008). Như vậy, BHXHTN chỉ có thể được hình thành và thực hiện trên cơ sở: Một là, có nhiều NLĐ tham gia và có thể cả người sử dụng lao động tự nguyện tham gia với điều kiện: có nhu cầu thực sự về BHXH; có khả năng tài chính để đóng 7 phí BHXHTN; có sự thống nhất với những quy định cụ thể về mức đóng, mức hưởng, quy trình thực hiện, phương pháp quản lý, sử dụng quỹ BHXHTN… Hai là, có tổ chức, cơ quan đứng ra thực hiện chế độ, chính sách BHXHTN như thu phí BHXHTN, quản lý quỹ BHXHTN, quản lý đối tượng tham gia BHXHTN, thực hiện chi trả trợ cấp BHXHTN cho các đối tượng được thụ hưởng. Ba là, được Nhà nước bảo hộ và hỗ trợ khi cần thiết. Bản chất và vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện a.
Bản chất của bảo hiểm xã hội tự nguyện - Bản chất kinh tế của BHXHTN: những người tham gia tự nguyện đóng góp một khoản tiền trích từ thu nhập để lập một quỹ dự trữ nhằm trợ cấp cho những người tham gia BHXHTN khi gặp rủi ro dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập. Nói cách khác, BHXHTN là quá trình phân phối lại thu nhập. Là một bộ phận của GDP, BHXHTN được xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh ốm đau, sinh đẻ, già yếu, chết. Sự phân phối của BHXHTN được thực hiện theo cả chiều dọc (sự phân phối giữa những người khỏe mạnh với người ốm đau; giữa người trẻ và người già; giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp) và chiều ngang (sự phân phối giữa chính bản thân NLĐ theo thời gian, giữa thời gian lao động và thời gian nghỉ hưu).
Do có sự phân phối lại thu nhập của BHXHTN mà đời sống của NLĐ và gia đình họ luôn được đảm bảo trước những bất trắc và rủi ro. - Bản chất xã hội của BHXHTN: Mục tiêu của BHXHTN là mục tiêu ASXH, không vì mục tiêu lợi nhuận, được thể hiện thông qua việc chi trả chế độ BHXH. Người tham gia BHXHTN sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị giảm hoặc mất khả lao động. Người tham gia BHXHTN chỉ đóng một phần nhỏ trong thu nhập của mình cho Quỹ BHXHTN nhưng có thể được bồi hoàn một khoản thu nhập đủ lớn để giúp họ trang trải rủi ro.
Chính nguyên tắc "lấy của số đông bù cho số ít" của BHXHTN được hiểu như một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ khi thu nhập của họ bị giảm, bị mất. BHXHTN đóng góp vào việc ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và xóa đói giảm nghèo. Vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXHTN là một trong những chính sách ASXH có ý nghĩa quan trọng, góp phần vào sự tiến bộ xã hội, đảm bảo ổn định chính trị và phát triển KTXH của nước 8 ta. Với tầm quan trọng như vậy, chính sách BHXH nói chung, BHXHTN nói riêng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện, từ phát triển đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đến tự nguyện, hướng tới mục tiêu mọi NLĐ đều được hưởng chế độ BHXH, giảm bớt gánh nặng khi gặp rủi ro trong sinh hoạt và lao động, góp phần ổn định cuộc sống hiện tại và lâu dài.
BHXHTN có ý nghĩa sâu sắc đối với NLĐ tự do, có thu nhập thấp và không ổn định để được hưởng lương hưu nhằm giảm bớt khó khăn, rủi ro khi về già. Cụ thể: - Đối với cá nhân NLĐ và gia đình: + Ổn định thu nhập cho NLĐ và gia đình. NLĐ khi gặp rủi ro, bất hạnh như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên, khi về già hết tuổi lao động hoặc phải ngừng làm việc tạm thời. Do vậy, thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn.
Nhờ có sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người tham gia BHXHTN nhanh chóng khắc phục được những tổn thất vật chất, sức khỏe, ổn định cuộc sống. + Nâng cao hiệu quả trong chi dùng cá nhân, giúp NLĐ tiết kiệm những khoản tiền nhỏ, đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết chi dùng khi già cả hay mất sức lao động. Đó không chỉ là nguồn hỗ trợ vật chất mà còn là nguồn động viên tinh thần to lớn đối với người nông dân khi gặp khó khăn, làm cho họ ổn định tâm lý, giảm bớt lo lắng khi tuổi già. - Đối với xã hội: + BHXHTN góp phần thực hiện công bằng xã hội, phân phối lại thu nhập giữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau theo xu hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống.
Vì vậy, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo được góp phần làm giảm bớt bởi BHXHTN. + Tăng cường mối quan hệ giữa các bên, thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần tương thân tương ái. NLĐ tham gia BHXHTN với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội, tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro, đồng thời bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, 9 nhân văn sâu sắc của BHXHTN.