phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về BHXH tự nguyện và phát triển đối tƣợng tham gia BHXH tự nguyện Chƣơng 2: Thực trạng phát triển đối tƣợng tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn thị xã An Khê Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển đối tƣợng tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn thị xã An Khê. 11 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BHXH TỰ NGUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN ĐỐI TƢỢNG THAM GIA BHXH TỰ NGUYỆN 1. Khái niệm, đặc trƣng, bản chất, nguyên tắc BHXH tự nguyện 1. Khái niệm về BHXH và BHXH tự nguyện “Trên thế giới, hệ thống an sinh, BHXH ra đời khá sớm.
Ngay từ năm 1850, hệ thống BHXH đầu tiên đã đƣợc thiết lập tại nƣớc Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức), với sự tham gia của giới thợ trong bảo hiểm ốm đau, sau đó đã thu hút đƣợc mọi tầng lớp xã hội và mở rộng ra các trƣờng hợp khác. Việc ban hành Luật BHYT năm 1883, Luật Bảo hiểm về rủi ro nghề nghiệp năm 1884 do Hiệp hội giới chủ quản lý, Luật Bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm tàn tật năm 1889 do chính quyền các bang quản lý, với hoạt động dựa trên nền tảng của cơ chế đóng góp ba bên (NLĐ, giới chủ và nhà nƣớc) đã đánh dấu bƣớc phát triển mới của BHXH. Từ kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức, hoạt động BHXH đã lan dần ra châu Âu vào đầu thế kỷ XX, sau đó đến các nƣớc Mỹ La-tinh rồi Mỹ, Ca-na-đa vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, BHXH tiếp tục là chính sách bảo đảm ASXH mang tính cộng đồng đƣợc áp dụng tại các nƣớc giành đƣợc độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Ca-ri-bê trong nửa cuối thế kỷ XX.” Trong quá trình phát triển, BHXH đã trở thành một vấn đề quốc tế gắn với vai trò của Liên hợp quốc mà trực tiếp là Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) (Đến nay, ILO đã thông qua trên 180 công ƣớc và 190 khuyến nghị trong các lĩnh vực công việc của tổ chức này, www.org), là một trong những quyền cơ bản nhất của con ngƣời đƣợc ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc: “Tất cả mọi ngƣời với tƣ cách là thành viên của xã hội có quyền hƣởng BHXH, quyền đó đƣợc đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về 12 kinh tế - xã hội và văn hóa, nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con ngƣời”.
Tính đến thời điểm hiện tại, theo ILO, trên thế giới có khoảng hơn 170 nƣớc thực hiện chính sách BHXH, trong đó 155 nƣớc (chiếm 95%) nhƣng chỉ có 63 nƣớc (chiếm 38,6%) thực hiện hình thức bảo hiểm hƣu trí, tai nạn lao động, ốm đau, thai sản. Ở Việt Nam, ngay từ năm 1929, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dƣơng (một trong các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam) đã nêu: “Tổ chức tất cả vô sản giai cấp và công hội, thực hành bảo hiểm cho thợ thuyền, giúp đỡ thợ thuyền thất nghiệp. Điều 7 Nghị quyết về giành chính quyền toàn quốc và thi hành 10 chính sách lớn của Việt Minh đƣợc thông qua tại kỳ họp Quốc dân Đại hội từ ngày 16 đến 17-8- 1945 có viết: “Ban bố Luật Lao động; ngày làm 08 giờ, định lƣơng tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm”. “Trên cơ sở này, ngay sau khi giành đƣợc chính quyền cách mạng, ngày 3-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 54-SL về ấn định các điều kiện cho công chức về hƣu trí; ngày 14-6-1946 ban hành Sắc lệnh số 105-SL quy định về việc cấp hƣu bổng và đóng BHXH đối với công chức.
Đây là hai văn bản pháp luật đầu tiên quy định về quyền lợi, mức hƣởng hƣu trí của công chức, khẳng định nguyên tắc đóng - hƣởng của BHXH, quy định trách nhiệm bảo hộ của Nhà nƣớc đối với Quỹ BHXH. Kế thừa các quy định này, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng của đất nƣớc, tham khảo có chọn lọc pháp luật và kinh nghiệm quốc tế về BHXH, Đảng và Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều nghị quyết, văn bản pháp luật về BHXH, tiêu biểu nhƣ Nghị định số 235-HĐBT, ngày 18/9/1985, của Hội đồng Bộ trƣởng về cải tiến chế độ tiền lƣơng của công nhân, viên chức và các lực lƣợng vũ trang, bãi bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá bù lỗ, chuyển sang chế độ trả lƣơng bằng tiền do quỹ hàng hóa bảo 13 đảm; Nghị định số 236-HĐBT, ngày 18 9 1985, của Hội đồng Bộ trƣởng về bổ sung, sửa đổi một số chế độ, chính sách về thƣơng binh xã hội; Luật BHXH năm 2006; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 22/11/2012, của Bộ Chính trị về tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng đối với công BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020; Chiến lƣợc phát triển ngành BHXH Việt Nam đến năm 2020 đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1215 QĐ-TTg, ngày 23/7/2013; Luật BHXH năm 2014. Mới đây nhất, cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo về ASXH tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, ngày 23/5/2018, Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì "BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nƣớc theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội".
Nhƣ vậy với trên 100 năm hình thành và phát triển lý luận về BHXH liên tục phát triển và hoàn thiện. Theo Tổ chức Lao động quốc tế - ILO (1999) khái niệm về BHXH đƣợc nêu nhƣ sau: “Bảo hiểm xã hội là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội”. Tại Việt Nam, kế thừa các văn bản pháp luật trƣớc đó, Điều 3 Luật Bảo 14 hiểm xã hội năm 2014, tiếp tục đƣa ra khái niệm về BHXH, theo đó BHXH đƣợc hiểu nhƣ sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Trong đó có hai loại hình BHXH là bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Theo Luật Bảo hiểm xã hội, BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện đƣợc định nghĩa nhƣ sau: - Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nƣớc tổ chức mà ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động phải tham gia. - Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nƣớc tổ chức mà ngƣời tham gia đƣợc lựa chọn mức đóng, phƣơng thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nƣớc có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để ngƣời tham gia hƣởng chế độ hƣu trí và tử tuất. Đặc trưng, bản chất của BHXH tự nguyện Trong hệ thống an sinh xã hội, BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng có vai trò quan trọng trong việc thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ngƣời lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và thực hiện công bằng xã hội. Khi tham gia BHXH tự nguyện, ngƣời tham gia BHXH hoặc gia đình họ sẽ đƣợc thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ suy giảm khả năng lao động, mất việc làm hoặc chết.
Nhờ đó mà khi ngƣời tham gia BHXH tự nguyện phát sinh các điều kiện bảo hiểm thì họ sẽ đƣợc quỹ BHXH kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện để họ nhanh ổn định cuộc sống, tiếp tục tham gia quá trình lao động. Nhƣ vậy, về mặt lý luận cho thấy: BHXH tự nguyện góp phần ổn định đời sống của ngƣời tham gia BHXH, góp phần đảm bảo an toàn, ổn 15 định cho toàn bộ nền kinh tế xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế của đất nƣớc. Quỹ BHXH là quỹ tài chính hoạt động theo nguyên lý tồn tích và có sự chia sẻ trong dài hạn đƣợc hình thành từ sự đóng góp của ngƣời lao động, sự hỗ trợ của Nhà nƣớc và đƣợc dùng để chi trả các chế độ BHXH cho ngƣời tham gia BHXH. Tuy nhiên, việc chi trả các chế độ này thƣờng không thực hiện cùng một lúc mà dàn trải theo thời gian.
Vì vậy, quỹ BHXH sẽ tồn tích lại một khoản tiền tạm thời nhàn rỗi và sẽ đƣợc sử dụng cho hoạt động đầu tƣ sinh lời. Số tiền quỹ nhàn rỗi này sẽ tham gia vào thị trƣờng tài chính và trở thành nguồn cung ứng vốn ổn định, lâu dài cho các việc đầu tƣ các công trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của nƣớc nhà. Với sức mạnh về tài chính của mình cùng với sự quản lý của Nhà nƣớc, BHXH sẽ góp phần ổn định tài chính, tiền tệ quốc gia, thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế đất nƣớc. Ngƣời lao động tham gia BHXH nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi trực tiếp của chính mình và gia đình, đồng thời cũng là trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội.
Nhà nƣớc thực hiện BHXH nhằm góp phần đảm bảo ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội, đảm bảo công bằng xã hội, đồng thời đây cũng là trách nhiệm quản lý xã hội của nhà nƣớc. Mỗi quốc gia trên thế giới có sự quy định giống và khác nhau giữa BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc.