Khóa luận: Phát huy tính sáng tạo NCKH của học viên đào tạo giáo viên KHXH&NV

Phát huy sáng tạo NCKH trong đội ngũ giáo viên KHXH&NV. Bài viết về đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, đóng góp vào sự phát triển.

Trường đại học

Trường Sĩ quan Chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2013 - nay

72
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: THỰC CHẤT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ TÍNH QUY LUẬT PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC VIÊN ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ

1.1. Thực chất phát huy tính sáng tạo trong nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội và nhân văn ở Trường Sĩ quan Chính trị

1.1.1. Quan niệm tính sáng tạo trong nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội và nhân văn ở Trường Sĩ quan Chính trị

1.1.1.1. Quan niệm tính sáng tạo trong hoạt động con người
1.1.1.2. Học viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội và nhân văn ở Trường Sĩ quan Chính trị
1.1.1.3. Đặc trưng cơ bản hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội và nhân văn ở Trường Sĩ quan Chính trị

KẾT LUẬN

KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Phát huy sáng tạo NCKH Khai mở tiềm năng giáo viên KHXH NV Việt Nam

Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) là một hoạt động đặc biệt, giúp con người nhận thức sâu sắc và cải tạo thực tiễn. Đây là quá trình khám phá, sáng tạo những quy luật mới, đồng thời vận dụng chúng vào đời sống xã hội. Đối với đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên Khoa học Xã hội & Nhân văn (KHXH&NV), NCKH không chỉ là trải nghiệm từ lý thuyết đến thực tiễn, mà còn là nền tảng để rèn luyện và nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, phát triển tư duy, tự khám phá và bồi dưỡng kiến thức liên tục. NCKH giúp hình thành và hoàn thiện nhân cách, thúc đẩy tư duy đổi mới trong nghiên cứu giáo dục, từ đó có tư duy tích cực trong nhận thức và hành vi.

NCKH đóng góp thiết yếu vào việc nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác dạy và học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Trên cơ sở đó, giáo viên có thể từng bước hoàn thiện kiến thức, tiếp cận các vấn đề khoa học một cách thuận lợi. Để phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV hiệu quả, cần có sự tác động tổng hợp từ nhiều yếu tố: vai trò của các tổ chức giáo dục, sự lãnh đạo của cấp trên, và sự định hướng từ giảng viên. Đặc biệt, yếu tố chủ quan của người học, trong đó tính sáng tạo, là rất cần thiết. Chất lượng và hiệu quả hoạt động NCKH xét đến cùng phụ thuộc vào sự sáng tạo của chính người nghiên cứu. Tính sáng tạo giúp làm chủ kiến thức, khái quát vấn đề, tìm ra cái mới có giá trị, tạo bước đột phá, và làm cơ sở nhận thức, cải tạo thực tiễn.

Bên cạnh đó, tính sáng tạo kích thích khuyến khích tư duy phản biện giáo viên, giúp đào sâu và mở rộng vốn tri thức đã có, góp phần nâng cao chất lượng NCKH. Trước yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, công tác NCKH được đặc biệt coi trọng, như Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII đã nhấn mạnh: “Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, làm cho khoa học, công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu” [10, tr.X]. Trong bối cảnh này, việc phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV trở thành nhiệm vụ cấp thiết, không chỉ góp phần vào sự nghiệp giáo dục mà còn thúc đẩy sự hiện đại hóa toàn diện.

Vai trò của NCKH trong phát triển giáo dục KHXH&NV là không thể phủ nhận. NCKH không chỉ cải thiện chất lượng chuyên môn mà còn là động lực cho sự đổi mới phương pháp dạy học. Hoạt động NCKH giúp giáo viên liên tục cập nhật, làm giàu vốn tri thức, từ đó truyền tải kiến thức một cách sinh động, hấp dẫn hơn cho học sinh. Sự chủ động trong NCKH cũng xây dựng một văn hóa nghiên cứu trong nhà trường, tạo môi trường khuyến khích sự tìm tòi, khám phá và ứng dụng tri thức mới vào thực tiễn giảng dạy. Điều này tạo ra một vòng lặp tích cực, nơi kiến thức mới liên tục được tạo ra, kiểm chứng và ứng dụng, mang lại lợi ích lâu dài cho cả giáo viên và người học.

1.1. Tầm quan trọng của NCKH và tư duy sáng tạo trong giáo dục hiện đại

NCKH là hoạt động cốt lõi định hình và phát triển trí tuệ. Đối với giáo viên KHXH&NV, NCKH không chỉ là nhiệm vụ mà còn là cơ hội để bồi dưỡng bản thân, hình thành phương pháp tư duy khoa học và nâng cao năng lực chuyên môn. Tính sáng tạo trong NCKH giúp giáo viên nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ, tìm kiếm giải pháp mới mẻ, đột phá, vượt ra khỏi lối mòn cũ. Hoạt động này cũng tạo điều kiện để khuyến khích tư duy phản biện giáo viên, giúp họ tự tin đối mặt và giải quyết các thách thức trong giảng dạy và nghiên cứu. Sự kết hợp giữa NCKH và tư duy sáng tạo là chìa khóa để phát triển đề tài nghiên cứu khoa học ý nghĩa, không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn có giá trị ứng dụng cao trong thực tiễn giáo dục.

1.2. Vai trò của NCKH trong nâng cao chất lượng giáo dục KHXH NV

NCKH của giáo viên KHXH&NV có vai trò quan trọng trong phát triển giáo dục KHXH&NV. Hoạt động này giúp giáo viên cập nhật những tri thức mới nhất, phương pháp giảng dạy tiên tiến, từ đó nâng cao chất lượng bài giảng. Việc ứng dụng kết quả NCKH vào giảng dạy giúp nội dung trở nên phong phú, sinh động và sát với thực tiễn hơn. Ngoài ra, NCKH còn là động lực để thúc đẩy sáng kiến kinh nghiệm giáo dục, tạo ra những mô hình, cách làm mới, góp phần đổi mới toàn diện hoạt động giáo dục. Giáo viên tham gia NCKH sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề xã hội, nhân văn, giúp truyền đạt kiến thức một cách có hệ thống và thuyết phục hơn cho học sinh.

II. Thách thức lớn khi phát huy sáng tạo NCKH của giáo viên KHXH NV hiện nay

Mặc dù tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) đã được nhận thức rõ ràng, nhưng việc phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV vẫn đối mặt với nhiều bất cập và thách thức đáng kể. Trong thực tế, nhiều giáo viên còn gặp khó khăn trong việc thoát ly khỏi lối mòn, dập khuôn, sao chép các công trình có sẵn, thiếu đi sự tích cực và ngại đổi mới về phương pháp. Điều này dẫn đến các công trình khoa học có hiệu quả chưa cao, chưa thực sự tạo ra giá trị mới hay giải pháp đột phá. Một số giáo viên dù có tâm huyết với NCKH nhưng lại thiếu kinh nghiệm và chưa đủ kiến thức cần thiết về NCKH, gây ra sự lúng túng trong quá trình thực hiện.

Nguyên nhân của những hạn chế này xuất phát từ nhiều phía. Một số cấp ủy đảng, chỉ huy cơ quan, giảng viên và cán bộ quản lý học viên chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò và tính cấp thiết của việc phát huy tính sáng tạo trong NCKH của học viên, dẫn đến sự đùn đẩy trách nhiệm và thiếu sự chỉ đạo sâu sát. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo có lúc chưa kịp thời, thiếu đồng bộ, chưa có những chủ trương, biện pháp mang tính đột phá. Điều này được thể hiện rõ trong nhận định: “Năng lực lãnh đạo của một số cấp ủy, chi bộ còn hạn chế, khắc phục khâu yếu, mặt yếu chuyển biến còn chậm, chưa kịp thời có những chủ trương biện pháp mang tính đột phá, xử lý thiếu kiên quyết, còn biểu hiện che giấu khuyết điểm, chạy theo thành tích” [7, tr.X].

Nội dung và phương pháp NCKH cho giáo viên KHXH&NV cũng chưa thật sự phù hợp với trình độ nhận thức và thực tiễn. Mặc dù có sự đổi mới, nhưng vẫn còn những nội dung không phù hợp, tạo áp lực và tâm lý lúng túng cho giáo viên khi lựa chọn đề tài tránh trùng lặp. Việc thiếu các phương pháp nghiên cứu định tính KHXH&NV tiên tiến, thiếu sự hướng dẫn cụ thể về cách thu thập và lựa chọn tài liệu nghiên cứu cũng là một rào cản lớn. Một bộ phận giáo viên thiếu tính tự giác, chưa phát huy tinh thần trách nhiệm trong NCKH, coi NCKH là việc của người khác hoặc chỉ là hoạt động hình thức. Động cơ học tập, nghiên cứu chưa đúng đắn dẫn đến thái độ ngại học, ngại nghiên cứu, thậm chí có hành vi sao chép vi phạm quy chế.

Thêm vào đó, môi trường sư phạm của nhà trường có những mặt chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu NCKH. Mặc dù đã có nhiều đổi mới, nhưng một số yếu tố thay đổi chậm. Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ TSQCT lần thứ IX đánh giá: “Hoạt động NCKH đã được đổi mới nhưng chưa mạnh mẽ. Một số đề tài khoa học, giáo trình, tài liệu dạy học chất lượng chưa cao, chưa bám sát thực tiễn; ứng dụng một số sản phẩm khoa học chưa hiệu quả” [7]. Công tác kiểm tra, giám sát còn chưa thường xuyên, đánh giá chất lượng đề tài nghiên cứu khoa học giáo viên chưa sâu sắc. Môi trường quản lý khép kín, ít giao lưu cũng ảnh hưởng đến khả năng sáng tạo. Những hạn chế này đòi hỏi các giải pháp đồng bộ và quyết liệt để thực sự phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV.

2.1. Hạn chế trong nhận thức và trách nhiệm NCKH của giáo viên và cán bộ

Một trong những rào cản chính để phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV là sự chưa đầy đủ trong nhận thức và trách nhiệm. Nhiều cán bộ, giảng viên chưa phát huy hết vai trò trong hướng dẫn, giới thiệu tài liệu, hoặc chưa cụ thể hóa cách lựa chọn nội dung, thu thập tài liệu. Việc tương tác, trao đổi với học viên trong quá trình nghiên cứu còn hạn chế, chưa trở thành phổ biến. Điều này làm giảm đi động lực và sự định hướng cần thiết cho giáo viên. Một số giáo viên còn thiếu sự tự giác, nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của NCKH giáo viên THPT, xem nhẹ hoạt động này hoặc e ngại đổi mới, dẫn đến kết quả nghiên cứu chưa cao và thiếu tính sáng tạo.

2.2. Vướng mắc về nội dung phương pháp và môi trường NCKH đặc thù

Nội dung, phương pháp và hình thức phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV đôi khi chưa thật sự phù hợp với trình độ nhận thức và thực tiễn. Giáo viên gặp khó khăn trong việc phát triển đề tài nghiên cứu khoa học ý nghĩa mà không bị trùng lặp. Thiếu kinh nghiệm và kỹ năng phân tích dữ liệu nghiên cứu xã hội cũng là trở ngại. Môi trường sư phạm đặc thù, đôi khi khép kín, hạn chế giao lưu, cũng ảnh hưởng đến khả năng tư duy sáng tạo. Công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá chất lượng đề tài chưa sâu sắc, không khuyến khích được sự đột phá. Đây là những điểm cần được cải thiện để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động NCKH.

III. Nâng tầm NCKH sáng tạo Vai trò dẫn dắt và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên KHXH NV

Để thực sự phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV, một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu là tăng cường sự chỉ đạo, hướng dẫn và phối hợp chặt chẽ giữa các cấp lãnh đạo, quản lý và giảng viên trong nhà trường. Sự đổi mới và tăng cường lãnh đạo của cấp ủy đảng, chỉ huy các cấp cùng các cơ quan chức năng là yếu tố then chốt. Công tác này cần quán triệt sâu sắc quy chế giáo dục đào tạo của quân đội, mục tiêu và yêu cầu đào tạo của nhà trường trong giai đoạn mới. Việc chuẩn hóa quy trình lãnh đạo, từ khâu ra nghị quyết, lập kế hoạch đến tổ chức thực hiện, kiểm tra và thanh tra, sẽ tạo nên sự tác động đồng bộ của toàn bộ hệ thống lãnh đạo, chỉ huy. Từ đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể và các lực lượng đào tạo, đồng thời nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho giáo viên, tạo điều kiện thuận lợi để họ phát huy tính sáng tạo trong NCKH.

Đổi mới và tăng cường công tác quản lý của người chỉ huy trong NCKH của giáo viên cũng vô cùng cần thiết. Trong môi trường sư phạm quân sự, tính kỷ luật cao đòi hỏi công tác quản lý phải tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ giáo viên học tập, tu dưỡng, rèn luyện toàn diện. Nội dung quản lý cần được thực hiện chặt chẽ trên tất cả các mặt, đặc biệt quan tâm quản lý tốt các vấn đề về chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức, động cơ và kết quả học tập. Tăng cường và đổi mới công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ giáo viên, đặc biệt là cán bộ quản lý trực tiếp, là yếu tố sống còn. Cán bộ quản lý không chỉ là người quản lý mà còn là người thầy tại chỗ, hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch nghiên cứu, xây dựng động cơ, trách nhiệm đúng đắn, chỉ đạo tổ chức hoạt động nghiên cứu, và hướng dẫn lựa chọn nội dung nghiên cứu. Đồng thời, họ cũng là người trực tiếp kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động nghiên cứu.

Giải pháp tiếp theo là tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên và hiệu quả hoạt động truyền thụ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phương pháp tư duy cho giáo viên nhằm phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV. Giảng viên là chủ thể trực tiếp, có vai trò quyết định trong việc truyền thụ và định hướng toàn bộ quá trình tiếp thu, lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp. Chất lượng giảng dạy của giảng viên trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sáng tạo của giáo viên. Việc nâng cao trình độ tri thức của đội ngũ giảng viên là rất quan trọng, bởi “Không có thầy giáo thì không có giáo dục” [19, tr.X]. Nhà trường cần tiếp tục kiện toàn đội ngũ giảng viên, đảm bảo cả số lượng và chất lượng, bồi dưỡng tại trường hoặc gửi đi đào tạo ở các học viện, đồng thời chủ động thực hiện chuẩn hóa chức danh giảng viên. Việc gửi giảng viên đi thực tế, dự nhiệm ở các đơn vị cũng giúp họ tích lũy kinh nghiệm, bổ sung tri thức thực tiễn về lãnh đạo, chỉ huy, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy và hướng dẫn NCKH cho giáo viên.

3.1. Tăng cường lãnh đạo và quản lý hỗ trợ NCKH cho giáo viên

Việc tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng và đổi mới công tác quản lý của người chỉ huy là nền tảng để phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV. Điều này bao gồm việc xây dựng các nghị quyết, kế hoạch chi tiết, định hướng rõ ràng cho hoạt động NCKH, đồng thời nâng cao trách nhiệm của từng cán bộ quản lý. Công tác quản lý cần bao quát mọi mặt, từ tư tưởng, phẩm chất đạo đức đến động cơ học tập và kết quả NCKH. Việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ giáo viên cho đội ngũ cán bộ quản lý, đặc biệt là những người trực tiếp hướng dẫn, sẽ giúp họ có đủ năng lực để hỗ trợ giáo viên trong việc phát triển đề tài nghiên cứu khoa học ý nghĩa và giải quyết các vấn đề gặp phải.

3.2. Nâng cao chất lượng giảng dạy và năng lực hướng dẫn NCKH của giảng viên

Giảng viên đóng vai trò trung tâm trong việc định hình và nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho giáo viên. Việc nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên không chỉ là truyền thụ kiến thức mà còn là kích thích tư duy sáng tạo, trang bị kỹ năng phân tích dữ liệu nghiên cứu xã hội và các phương pháp nghiên cứu định tính KHXH&NV. Nhà trường cần đầu tư vào việc bồi dưỡng trình độ tri thức, năng lực sư phạm cho giảng viên thông qua các khóa đào tạo, hội thảo, dự giờ, thi giảng viên giỏi. Điều này giúp giảng viên củng cố kiến thức, hình thành phẩm chất, năng lực và phương pháp giảng dạy hiệu quả, từ đó tạo động lực và niềm tin cho giáo viên trong hoạt động NCKH.

IV. Bí quyết đổi mới chương trình và phát huy sáng tạo NCKH ở giáo viên KHXH NV

Để phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV một cách bền vững, việc đổi mới nội dung và chương trình đào tạo của nhà trường theo hướng phát triển tri thức, kỹ năng và kích thích tư duy sáng tạo là vô cùng cần thiết. Hiện nay, cùng với xu hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo Nghị quyết số 29-NQ/TW [10], nội dung đào tạo cần mang tính thực tiễn và ứng dụng cao, tập trung vào những vấn đề mới mẻ, phù hợp với thực tiễn xã hội và yêu cầu xây dựng quân đội trong thời đại hiện nay. Việc đổi mới này phải có sự kế thừa những giá trị cũ, đồng thời loại bỏ những nội dung bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu mới. Cần thực hiện tốt các biện pháp như tăng cường thời lượng học các môn lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các môn chuyên ngành một cách hợp lý. Đây là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, trang bị cho người học thế giới quan, phương pháp luận khoa học nhất trong nhận thức và cải tạo thực tiễn.

Việc tăng thời lượng thực hành và thời gian tự học một cách hợp lý sẽ kích thích tư duy đổi mới trong nghiên cứu giáo dục, tính năng động và sáng tạo của người học. Đây là điều kiện tốt nhất để giáo viên nhanh chóng vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn, phát triển kỹ năng xử trí tình huống, giúp tư duy trở nên linh hoạt, mau lẹ, quyết đoán hơn, từ đó phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV. Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo cần theo hướng khuyến khích tư duy phản biện giáo viên, tính tích cực, tự giác và sáng tạo của người học. Đây là một vấn đề mang tính tất yếu và cấp thiết, phản ánh đúng quy luật nhận thức, phát huy được vai trò nhân tố chủ quan của người học. Cần có sự tham gia của các tổ chức và lực lượng liên quan trong việc xây dựng và đổi mới nội dung, chương trình đào tạo.

Phòng Đào tạo, đặc biệt là Ban Kế hoạch, đóng vai trò trung tâm trong việc quản lý và hoạch định nội dung, chương trình. Cần chú trọng tiếp thu ý kiến đóng góp của các khoa giáo viên, cũng như phản hồi từ chính các giáo viên đang được đào tạo để chuẩn hóa nội dung, phân bổ thời gian khoa học, linh hoạt, và kịp thời điều chỉnh chương trình. Đội ngũ giảng viên, thông qua hoạt động giảng dạy, sẽ kiểm định chất lượng nội dung, chương trình giáo dục. Phản hồi từ giáo viên về thái độ và đặc điểm nhận thức cũng là cơ sở để đánh giá ưu, khuyết điểm của chương trình. Đổi mới phương pháp dạy học KHXH&NV cần được lồng ghép chặt chẽ vào chương trình đào tạo, khuyến khích các hình thức nghiên cứu nhóm, chuyên đề, và khóa luận tốt nghiệp để giáo viên có cơ hội thực hành và phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình. Mục đích cuối cùng là tạo ra một môi trường học tập và nghiên cứu năng động, nơi văn hóa nghiên cứu trong nhà trường được vun đắp và phát triển liên tục.

4.1. Tối ưu chương trình đào tạo để thúc đẩy tư duy sáng tạo và phản biện

Chương trình đào tạo cần được thiết kế lại để phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV thông qua việc tối ưu hóa nội dung và phương pháp. Việc tăng cường các môn lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và các môn chuyên ngành giúp củng cố nền tảng tri thức và phương pháp luận khoa học. Cùng với đó, việc tăng thời lượng thực hành và tự học sẽ kích thích tư duy đổi mới trong nghiên cứu giáo dục, rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Mục tiêu là giúp giáo viên có khuyến khích tư duy phản biện giáo viên, không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn biết cách đặt câu hỏi, phân tích và giải quyết vấn đề một cách độc lập và sáng tạo.

4.2. Nâng cao nhận thức và xây dựng động cơ tích cực cho giáo viên trong NCKH

Nâng cao nhận thức, xây dựng động cơ đúng đắn là giải pháp quyết định đến việc phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV. Cần giáo dục để giáo viên thấy được tầm quan trọng của NCKH giáo viên THPT, từ đó hình thành ý thức và trách nhiệm cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc” [17, tr.X]. Việc xây dựng động cơ tích cực, niềm say mê nghiên cứu sẽ giúp giáo viên vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Nhà trường cần sử dụng nhiều phương pháp giáo dục, như đánh giá khách quan, biểu dương, khen thưởng công minh, để tạo khí thế thi đua sôi nổi, thúc đẩy giáo viên chủ động tìm tòi, sáng tạo trong nghiên cứu.

V. Ứng dụng NCKH sáng tạo Nâng cao chất lượng giáo dục KHXH NV thực tiễn

Việc phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV không chỉ dừng lại ở quá trình nghiên cứu mà còn phải hướng tới việc ứng dụng kết quả NCKH vào giảng dạy và thực tiễn giáo dục. Khi kết quả NCKH của giáo viên được ứng dụng thành công, nó sẽ tạo ra những giá trị thiết thực, nâng cao chất lượng giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học KHXH&NV. Điều này được thể hiện rõ qua những ưu điểm trong thực trạng NCKH đã đạt được, cụ thể là việc nhận thức đúng đắn và trách nhiệm cao của các chủ thể đối với hoạt động này.

Thời gian qua, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị đã thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của mình, chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể và kiểm tra đôn đốc theo tiến độ. Sự phối hợp chặt chẽ với các khoa giáo viên, cơ quan chức năng trong việc hướng dẫn, thẩm định, đánh giá và xếp loại các đề tài nghiên cứu khoa học giáo viên, chuyên đề, sáng kiến khoa học đã tạo ra sự chuyển biến rõ nét về chất lượng sản phẩm khoa học. Đảng ủy, chỉ huy các khoa giáo viên cùng đội ngũ giảng viên luôn tâm huyết, có trách nhiệm cao, đã có nhiều cố gắng kết hợp truyền thụ tri thức với rèn luyện kỹ năng sáng tạo cho giáo viên trong từng nội dung, từng buổi học. Hoạt động NCKH của đội ngũ giảng viên cũng đạt nhiều thành tích, nhiều đề tài được nghiệm thu và dự thi cấp Bộ Quốc Phòng.

Nội dung, hình thức và phương pháp phát huy tính sáng tạo trong NCKH của giáo viên KHXH&NV đã không ngừng được đổi mới và hoàn thiện. Nhà trường xây dựng nội dung NCKH cụ thể, xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, bám sát mục tiêu, yêu cầu đào tạo và tình hình thực tiễn. Việc đổi mới nội dung và hình thức nghiên cứu phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng, theo từng năm học, khóa học, đã nhận được sự hài lòng của phần lớn giáo viên. Kết quả điều tra cho thấy, có 23.5% giáo viên được hỏi cho rằng các nội dung, hình thức, phương pháp NCKH là rất phù hợp, 65% cho là phù hợp [Phụ lục 2].

Kết quả NCKH của giáo viên KHXH&NV có nhiều chuyển biến tích cực. Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của NCKH giáo viên THPT đã không ngừng tăng lên, với 80% giáo viên được hỏi cho rằng việc phát huy sáng tạo NCKH là rất quan trọng [Phụ lục 2]. Trong năm học 2016-2017, kết quả NCKH của giáo viên đã có một sáng kiến khoa học đạt giải nhất cấp Nhà trường và được gửi đi dự thi Tuổi trẻ sáng tạo toàn quân; ba đề tài đạt giải nhì, bốn đề tài đạt giải ba; hai chuyên đề đạt giải nhất cấp Nhà trường [28]. Điều này khẳng định rằng khi có sự đầu tư đúng đắn và sự nỗ lực từ cả phía nhà trường lẫn giáo viên, việc phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV hoàn toàn có thể đạt được những kết quả vượt trội, đóng góp trực tiếp vào sự phát triển của giáo dục.

5.1. Thành quả NCKH sáng tạo và vai trò thúc đẩy sáng kiến giáo dục

Các thành quả trong phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV không chỉ thể hiện qua các bài viết, đề tài mà còn qua việc thúc đẩy sáng kiến kinh nghiệm giáo dục. Nhiều công trình NCKH đã đạt giải cao, cho thấy sự nỗ lực và khả năng sáng tạo của giáo viên. Kết quả này là cơ sở để khẳng định hiệu quả của việc phát huy tính sáng tạo trong NCKH. Khi giáo viên có những sáng kiến mới, những cách tiếp cận độc đáo, điều đó không chỉ làm phong phú thêm kho tàng tri thức mà còn góp phần công bố khoa học cho giáo viên KHXH&NV rộng rãi, lan tỏa những giá trị tốt đẹp trong cộng đồng giáo dục.

5.2. Năng lực và kỹ năng nghiên cứu khoa học của giáo viên được nâng cao

Thực tiễn cho thấy, kỹ năng và phương pháp nghiên cứu định tính KHXH&NV của giáo viên đã được nâng lên rõ rệt. Giáo viên đã thành thạo hơn trong việc tiếp cận nội dung nghiên cứu, xin ý kiến giảng viên hướng dẫn, triển khai đề cương, và tìm kiếm tài liệu để bổ trợ. Khảo sát chỉ huy quản lý học viên cho thấy 13,4% giáo viên có kỹ năng NCKH ở mức tốt; 46,6% ở mức khá [Phụ lục 1]. Kỹ năng phân tích dữ liệu nghiên cứu xã hội, thu thập và xử lý thông tin một cách khách quan, chuẩn xác đã được cải thiện đáng kể. Điều này tạo nền tảng vững chắc cho giáo viên tiếp tục nâng cao năng lực nghiên cứu khoa họcphát triển đề tài nghiên cứu khoa học ý nghĩa trong tương lai.

VI. Tương lai sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH NV Hướng đi bền vững

Để phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV một cách bền vững và hiệu quả trong tương lai, cần nhìn nhận đây là một quá trình biện chứng, đòi hỏi sự tác động tổng thể từ nhiều yếu tố. Cái mới trong NCKH phải là cái có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, phù hợp với đặc điểm giáo dục, đào tạo của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng NCKH và giáo dục. Ngoài sự tác động của các nhân tố khách quan, sự phấn đấu nỗ lực của giáo viên, còn phụ thuộc rất lớn vào nhận thức và hành động của các chủ thể khác trong hệ thống giáo dục đào tạo.

Việc phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV thực chất là quá trình chủ thể phát huy phải tìm ra những động lực bên trong và những điều kiện thúc đẩy hành động của các chủ thể một cách tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo. Đồng thời, đây là quá trình giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể phát huy và đối tượng được phát huy. Mỗi chủ thể, mỗi hoạt động có vị trí, vai trò khác nhau nhưng tác động đan xen, hòa quyện và thúc đẩy lẫn nhau, không được xem nhẹ bất cứ một chủ thể, một hoạt động nào. Mục tiêu của quá trình này là tạo ra niềm đam mê, sự nhiệt tình đối với NCKH, khơi dậy, phát hiện, bồi dưỡng các yếu tố cấu thành năng lực sáng tạo: tri thức, tình cảm, ý chí, bản lĩnh, động cơ, thái độ, phương pháp tư duy và năng lực nghiên cứu khoa học của giáo viên.

Trong tương lai, việc phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV cần phải được lồng ghép chặt chẽ hơn nữa vào văn hóa nghiên cứu trong nhà trường. Điều này bao gồm việc xây dựng một môi trường sư phạm lành mạnh, dân chủ, nơi mục tiêu và yêu cầu đào tạo được xác định rõ ràng, các mối quan hệ xã hội và sư phạm được xây dựng trên tinh thần tự giác, trách nhiệm, đồng chí, đồng đội, tình thầy trò gắn bó, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Môi trường đào tạo của nhà trường tác động đến các chủ thể giáo dục theo hai chiều hướng: nếu môi trường đào tạo lành mạnh, thuận lợi và dân chủ thì chất lượng giáo dục sẽ đạt hiệu quả cao nhất.

Các tiêu chí đánh giá quá trình phát huy sáng tạo NCKH cũng cần được xây dựng dựa trên ý thức, trách nhiệm của các chủ thể, thái độ, động cơ, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của giáo viên, và hệ thống tri thức, kết quả nghiên cứu mà họ đã lĩnh hội được. Tương lai của NCKH sáng tạo đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt đến phát triển đề tài nghiên cứu khoa học ý nghĩa, có tính ứng dụng cao, giải quyết các vấn đề thực tiễn. Việc công bố khoa học cho giáo viên KHXH&NV không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để lan tỏa những tri thức mới, khuyến khích sự đổi mới và tiến bộ không ngừng trong lĩnh vực giáo dục. NCKH sẽ tiếp tục là nền tảng vững chắc để bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ giáo viên, đảm bảo chất lượng và sự phát triển bền vững của đội ngũ giáo viên KHXH&NV trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay.

6.1. Xây dựng văn hóa nghiên cứu và môi trường học thuật sáng tạo

Để duy trì và phát huy sáng tạo NCKH cho giáo viên KHXH&NV lâu dài, việc xây dựng một văn hóa nghiên cứu trong nhà trường là yếu tố then chốt. Điều này có nghĩa là tạo ra một môi trường khuyến khích sự tò mò, khám phá, và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Cần có cơ chế động viên, khen thưởng kịp thời cho những sáng kiến và đề tài NCKH có giá trị, tạo điều kiện cho giáo viên chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác nghiên cứu. Một môi trường học thuật cởi mở, dân chủ sẽ thúc đẩy khuyến khích tư duy phản biện giáo viên, giúp họ tự tin hơn trong việc đề xuất và triển khai những ý tưởng mới lạ.

6.2. NCKH là đòn bẩy phát triển chuyên môn và ứng dụng thực tiễn bền vững

NCKH không chỉ là hoạt động học thuật mà còn là đòn bẩy mạnh mẽ cho việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ giáo viênứng dụng kết quả NCKH vào giảng dạy. Khi giáo viên tích cực tham gia NCKH, họ không chỉ làm giàu tri thức mà còn cải thiện kỹ năng sư phạm, đổi mới phương pháp dạy học KHXH&NV. Những đề tài nghiên cứu sáng tạo sẽ dẫn đến những giải pháp thực tiễn, góp phần giải quyết các vấn đề cấp thiết trong giáo dục. Việc công bố khoa học cho giáo viên KHXH&NVthúc đẩy sáng kiến kinh nghiệm giáo dục sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa, giúp những ý tưởng hay được nhân rộng, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

27/09/2025
Khóa luận tốt nghiệp phát huy tính sáng tạo trong nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội và nhân văn ở trường sĩ quan chính trị hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 THỰC CHẤT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ TÍNH QUY LUẬT PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC VIÊN ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ 1. Thực chất phát huy tính sáng tạo trong nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội và nhân văn ở Trường Sĩ quan Chính trị 1. Quan niệm tính sáng tạo trong nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội và nhân văn ở Trường Sĩ quan Chính trị * Quan niệm tính sáng tạo trong hoạt động con người Con người là một thực thể sinh vật có tính tự nhiên và xã hội. Trong hoạt động thực tiễn của mình, con người không tự bằng lòng với những gì đã có sẵn trong tự nhiên, ngay từ khi ra đời, con người đã biết lao động cải tạo tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ cho nhu cầu sống và hoạt động của mình.Mác đã viết, “sản xuất là hoạt động không ngừng sáng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người” [3, tr.

Hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, có mục đích, khác về chất so với hoạt động bản năng của con vật, trước khi làm việc con người đã 11 định hình trong đầu óc. Vì thế, đặc trưng lao động của con người là hoạt động có tính chất tái tạo và sáng tạo. Thế giới vật chất luôn vận động biến đổi không ngừng, để phản ánh kịp sự vận động biến đổi ấy trong quá trình lao động cải tạo thế giới con người luôn luôn có sự phát triển và hoàn thiện về ý thức, về tư duy trong đó có tính sáng tạo. Trong thời đại ngày nay, khi nhận thức của con người đã đạt đến một trình độ cao hơn, thì năng lực nhận thức không còn giữ nguyên nghĩa mà đã trở thành năng lực sáng tạo.

Bởi lẽ, người ta không chỉ sáng tạo để có những cái mới, mà còn sáng tạo nhằm thay đổi thế giới làm cho thế giới ngày càng tốt đẹp hơn. Sáng tạo đã được coi như chìa khóa của mọi thành công. Do đó, chúng ta phải tự chuẩn bị và tạo dựng cho mình sự sáng tạo. Theo Từ điển tiếng Việt, sáng tạo là “tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần” hay “tìm ra cái mới, có cách giải quyết cái mới, không bị gò bó, không phụ thuộc vào cái đã có” [5, tr.

Mọi nghề nghiệp ở thời nào trong xã hội đều cần phải có sự sáng tạo, con người sinh ra vốn ai cũng có khả năng sáng tạo. Tuy nhiên, khả năng sáng tạo của con người phần lớn bị giới hạn bởi phương pháp giáo dục và những quy ước của xã hội, muốn sáng tạo mỗi người phải dũng cảm bỏ cách nghĩ, cách làm, cách nói, đã lỗi thời, lạc hậu và phải suy nghĩ, phải tư duy một cách biện chứng, sáng tạo trong mọi hoạt động, đặc biệt là lĩnh vực khoa học. Sáng tạo nghĩa là tạo ra cả những giá trị mới cả về vật chất và tinh thần, có tuy duy mới, cách giải quyết mới không phụ thuộc vào cái đã có trước đó, là một năng lực vô cùng quan trọng trong công việc và trong chính đời sống của mỗi người. Đó là khả năng tìm thấy những điều mới mẻ từ khả năng quan sát và nhận biết được.

Từ đó giúp mỗi người phát triển thêm những hiểu biết của mình, và làm phong phú thêm những ý tưởng mới, để nhạy bén và sâu sắc 12 hơn trong việc tìm kiếm ý tưởng và giải quyết vấn đề khó khăn mà chúng ta gặp phải trong cuộc sống. Từ những lý luận trên tác giả quan niệm: Tính sáng tạo của con người là một quá trình tư duy liên quan đến khám phá ra những ý tưởng mới, những khái niệm mới, hoặc kết hợp những ý tưởng mới hoặc khái niệm đã biết. Sự sáng tạo của con người thường được đề cập đến như hiện tượng theo đó một “cái mới” được tạo ra và mang giá trị nhất định phục vụ cho chính nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người. Quan niệm này có ý nghĩa phương pháp luận và vận dụng trong luận giải tính sáng tạo của học viên đào tạo giáo viên KHXH&NV trong hoạt động NCKH.

Cơ sở của tính sáng tạo lµ trình độ tư duy của con người trong nhận thức và cải tạo tự nhiên. Trong ®êi sèng x· héi con ngêi muèn duy tr× sù tån t¹i cña m×nh cÇn ph¶i ®îc tháa m·n nh÷ng nhu cÇu vËt chÊt vµ tinh thÇn nhÊt ®Þnh, nh÷ng nhu cÇu ấy không phải sẵn có trong tù nhiªn, mµ phÇn lín lµ do con ngêi s¸ng t¹o ra trong quá trình lao động. Mác viết: “lao động sáng tạo ra bản thân con người” [2, tr. Chỉ cã th«ng qua lao ®éng s¶n xuÊt con ngêi míi cã thÓ phát triển và t¹o ra nh÷ng s¶n phÈm ®¸p øng nhu cÇu cña b¶n th©n, duy tr× sù tån t¹i vµ ph¸t triÓn cña con ngêi vµ x· héi loµi ngêi.

* Học viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội và nhân văn ở Trường Sĩ quan Chính trị. Học viên đào tạo giáo viên KHXH&NV là những học viên được lựa chọn từ các đơn vị sau khi kết thúc năm học thứ nhất về học tập tại Tiểu đoàn 7 với các chuyên ngành như Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin, 13 Lịch sử Đảng Cộng sảng Việt Nam, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tâm lý học quân sự, Giáo dục học quân sự. Đặc điểm của đối tượng này là những học viên có mục tiêu đào tạo ra là giáo viên KHXH&NV có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ văn hóa, sức khỏe tốt, phương pháp, tác phong và có chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của người giáo viên KHXH&NV đáp ứng theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo của Nhà trường. Tốt nghiệp ra trường được thăng quân hàm sĩ quan, trở thành giáo viên KHXH&NV giảng dạy ở các Nhà trường trong quân đội.

Họ là những học viên theo các năm học, đến từ nhiều vùng miền trong cả nước, với nhiều độ tuổi từ 18 đến 27 tuổi, được tuyển chọn từ nhiều nguồn khác nhau theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Quốc Phòng. Đây là đặc điểm chi phối không nhỏ đến quá trình quản lý, giáo dục, rèn luyện học viên về mọi mặt trong đó có hoạt động NCKH. Phần lớn học viên trong độ tuổi thanh niên, là lứa tuổi có ưu thế về sức trẻ, về sự nhanh nhạy, nhiệt tình, nhiều hoài bão, khát vọng, thích tìm tòi khám phá… Họ là những học viên có tuổi đời trẻ đang trong quá trình rèn luyện, phát triển và hoàn thiện nhân cách người sĩ quan. Đó là những học viên có xu hướng nghề nghiệp rõ ràng, động cơ thái độ học tập đúng đắn theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo của Nhà trường.

Học viên đào tạo giáo viên KHXH&NV ở TSQCT được học tập, rèn luyện trong môi trường sư phạm quân sự, được tổ chức quản lý chặt chẽ dưới sự giúp đỡ của giảng viên, cán bộ quản lý có phẩm chất, năng lực tốt. Quá trình đào tạo tại Nhà trường, đội ngũ học viên được biên chế, sắp xếp theo hệ thống tổ chức chặt chẽ thống nhất từ Tổ, Tiểu đội đến lớp, Đại đội, và được học tập, rèn luyện theo một quy trình khoa học dựa trên việc chấp hành, thực hiện các nguyên tắc, chế độ, quy chế Điều lệnh, Điều lệ của Quân đội, của 14 Nhà trường… là điều kiện cơ bản tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên phần lớn đều là những hạt nhân tiêu biểu về phẩm chất, năng lực trong quá trình đào tạo được Nhà trường lựa chọn giữ lại từ các khóa tốt nghiệp hoặc nhận về từ các đơn vị, nhiều đồng chí có thâm niên, kinh nghiệm về công tác quản lý, huấn luyện, cùng với sự hăng hái, nhiệt tình trách nhiệm cao trong lãnh đạo, quản lý, chỉ huy đơn vị, giảng dạy theo nội dung, chương trình đào tạo. tạo điều kiện thuận lợi để hướng dẫn, giúp đỡ học viên, học tập, rèn luyện về mọi mặt, trong đó có hoạt động NCKH.

Một số đặc điểm nổi bật trên vừa có những điều kiện thuận lợi, vừa đặt ra những yêu cầu cao trong thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo nói chung và nâng cao chất lượng NCKH nói riêng, do đó phải phát huy tính sáng tạo trong NCKH để mỗi học viên có cách tiếp cận tri thức và tiến hành nghiên cứu đạt hiệu quả cao. * Đặc trưng cơ bản hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội và nhân văn ở Trường Sĩ quan Chính trị Với những đặc điểm nổi bật của học viên đào tạo giáo viên KHXH&NV nói trên, cùng thực tiễn hoạt động NCKH của Nhà trường thời gian qua, hoạt động NCKH của học viên đào tạo giáo viên KHXH&NV ở TSQCT có những đặc trưng cơ bản sau: Một là, hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội và nhân văn ở Trường Sĩ quan Chính trị luôn diễn ra theo kế hoạch cụ thể, có tính định hướng rõ ràng, phù hợp với đặc trưng hoạt động sư phạm. NCKH hướng tới sự nghiên cứu nhằm tìm ra cái mới, tri thức mới phản ánh đúng vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra, được thực hiện theo một kế 15 hoạch cụ thể cùng với sự định hướng rõ ràng, phù hợp với đặc trưng hoạt động sư phạm nhất định từ những lực lượng sư phạm trong Nhà trường. Tính kế hoạch, tính định hướng trong NCKH được thể hiện ở trên mọi nội dung, từ việc ấn định thời gian nghiên cứu, xác định nội dung cho đến thông qua các cấp và nghiệm thu đánh giá kết quả.

Tất cả những nội dung đó đều được thực hiện theo một kế hoạch cụ thể và theo các giai đoạn khác nhau. Trong NCKH sự tích cực của cá nhân, tập thể và những định hướng giá trị của nhà khoa học có vai trò quan trọng, song kết quả nghiên cứu lại phụ thuộc rất lớn vào tính kế hoạch, tính định hướng phù hợp với đặc trưng của hoạt động sư phạm nhất định. Hai là, hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội và nhân văn ở Trường Sĩ quan Chính trị diễn ra trong môi trường sư phạm quân sự đặc thù của Nhà trường, vừa nghiên cứu, vừa phải thực hiện nhiều hoạt động sư phạm khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ