Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến lý luận về phát huy nhân tố con người hạ sĩ quan, binh sĩ trong sức mạnh chiến đấu của trung đoàn bộ binh Một là, những công trình khoa học liên quan đến quan niệm nhân tố con người và quan niệm phát huy nhân tố con người Tác giả Trần Thị Thủy trong luận án tiến sĩ triết học Nhân tố con người và những biện pháp nhằm phát huy nhân tố con người trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay [135.], quan niệm: Nhân tố con người là một chỉnh thể thống nhất biện chứng giữa các mặt hoạt động và tổng hòa những phẩm chất, năng lực về trí tuệ, thể lực của cá nhân hay cộng đồng người tham gia vào sự biến đổi, phát triển của một quá trình xã hội nhất định với tư cách là chủ thể sáng tạo lịch sử - xã hội, sáng tạo mọi giá trị vật chất và giá trị tinh thần, đồng thời tự hoàn thiện và làm phong phú thêm phẩm giá nhân cách của chính con người [135. Theo tác giả, phát huy nhân tố con người không chỉ là khơi dậy, khai thác, sử dụng tiềm năng sáng tạo của con người một cách tối đa, tạo ra động lực phát triển kinh tế - xã hội, mà đồng thời còn là quá trình đào tạo, bồi dưỡng, kích thích phát triển và nâng cao không ngừng vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người với tư cách như là mục tiêu của sự phát triển xã hội.
Bởi vì, nhân tố con người tự nó chưa trở thành động lực phát triển của quá trình biến đổi xã hội, mà phụ thuộc vào vai trò của các chủ thể phát huy trong việc khơi dậy, nuôi dưỡng, khai thác và sử dụng một cách có ý thức vào mục đích nhất định, bằng những phương pháp, giải pháp cụ thể. Tác giả Trần Thanh Đức trong luận án tiến sĩ triết học Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với vấn đề đào tạo người lao động trong sự 11 nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay [49.], cho rằng: “Nhân tố con người là một nhân tố xã hội, nói lên sức mạnh tổng hợp của chủ thể người trong quan hệ với khách thể, mà trong đó hoạt động thực tiễn là quan trọng nhất, đem lại sự phát triển cho xã hội và cho chính bản thân con người” [49. Theo tác giả, khi luận giải khái niệm nhân tố con người, cần phân biệt và khẳng định nhân tố “người” với các nhân tố khác như: Kinh tế, kỹ thuật, chính trị - xã hội, v. trong đời sống xã hội.
Tác giả đã đặt nhân tố con người trong sự tác động, kết hợp với các yếu tố cấu thành, qua đó khẳng định nhân tố con người là nhân tố giữ vai trò trung tâm trong lực lượng sản xuất. Chính mặt hoạt động của nhân tố con người đã tạo ra phương thức kết hợp cao nhất giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất. Tác giả Nguyễn Văn Tài trong bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người” [120.] cho rằng: Con người trong quan niệm của Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội; sự thống nhất giữa con người cá nhân và con người xã hội; vừa là mỗi thành viên cụ thể, vừa là những cộng đồng người trong xã hội; là sự thống nhất giữa con người giai cấp, dân tộc và nhân loại. Vì thế, Hồ Chí Minh rất coi trọng sức mạnh cộng đồng người Việt Nam, tìm mọi cách để bồi dưỡng và phát huy sức mạnh đó trong tiến trình của cách mạng Việt Nam.
Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người cá nhân và con người xã hội, Người quan tâm giải quyết mối quan hệ lợi ích. Người đã kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần… tạo nên động lực nhằm phát huy nhân tố con người. Tác giả Phạm Công Nhất trong cuốn sách Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay [94.], quan niệm: Nhân tố con người là tổng thể các yếu tố có liên quan đến con người, là sự thống nhất biện chứng giữa các mặt chủ quan và khách quan để tạo nên năng lực, phẩm chất và trí tuệ của con người được hình thành và phát huy tác dụng vào trong thực tiễn sản xuất vật chất hay quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi cộng đồng, quốc gia trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Tuy nhiên, nhân tố con người 12 tự nó không thể tạo ra được sức mạnh to lớn nếu không được phát huy có hiệu quả.
Theo đó, “Phát huy nhân tố con người là quá trình đào tạo, bồi dưỡng và làm tăng nguồn lực con người về thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức” [94. Tác giả Nguyễn Văn Thanh và Lê Trọng Tuyến trong bài viết “Quan điểm của Đảng về con người và phát huy nhân tố con người trong Nghị quyết Đại hội XI” [126.], đã hệ thống hoá và phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ đại hội từ Đại hội VI đến nay về con người và phát huy nhân tố con người. Theo đó, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng không chỉ đánh giá đúng vai trò, vị trí của con người và nhân tố con người đối với phát triển đất nước, mà còn quan tâm tạo môi trường, động lực cho phát huy nhân tố con người một cách khoa học. Tác giả cho rằng, phát huy nhân tố con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vấn đề bảo đảm lợi ích gắn với việc làm, thu nhập; chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ; môi trường xã hội, trong đó môi trường dân chủ có vị trí rất quan trọng.
Để phát huy hiệu quả nhân tố con người, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chủ trương thực chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người; kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của các tổ chức, đoàn thể, gia đình, nhà trường, cộng đồng, xã hội; xây dựng xã hội tích cực, trong sáng, lành mạnh; phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của con người. Đặc biệt, trong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức phát triển, sức mạnh của nhân tố con người được biểu hiện tập trung ở trình độ trí tuệ, tri thức khoa học. Do đó, phải gắn với giáo dục - đào tạo; đây chính là tiền đề, điều kiện để phát huy nhân tố con người hiện nay. Đồng thời, thông qua chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng và phát huy nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Bởi, phát huy nhân tố con người hiện nay không chỉ là việc khai thác tri thức, trí tuệ, mà còn là khai thác các giá trị văn hoá, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, không chịu khuất phục của con người Việt Nam trước sức mạnh của kẻ xâm lược. Cuốn sách Phát huy nhân tố con người, từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến thực tiễn Việt Nam hiện nay do tác giả Trần Thị Hợi chủ biên [57.], khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những chủ trương, đường lối đúng đắn 13 nhằm phát huy nhân tố con người và đạt được những kết quả to lớn” [57. Tuy nhiên, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập có liên quan đến phát huy nhân tố con người, ảnh hưởng đến sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Cuốn sách cũng nhấn mạnh tính đúng đắn và sự sáng tạo trong quan niệm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của con người; những giá trị lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.
Qua đó giúp chúng ta có nhận thức đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của con người, phát huy nhân tố con người trong tiến trình cách mạng, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Tác giả Nguyễn Hiền Lương với bài viết “Quan điểm của Đảng về phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay” [71. Trên cơ sở luận giải quan điểm của triết học Mác về vai trò của con người trong lịch sử, tác giả đã làm rõ nhận thức mới của Đảng ta về vai trò của nhân tố con người, phát huy nhân tố con người trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ đó tác giả chỉ rõ: “Động lực cơ bản phát huy nhân tố con người hiện nay ở Việt Nam là phải quan tâm đến lợi ích của con người, phải thực hiện dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội và nâng cao năng lực trí tuệ cho con người” [71. Tác giả Đặng Hữu Toàn trong bài viết “Học thuyết về con người, giải phóng và phát triển con người - Một giá trị làm nên sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác” [139.], khẳng định: Học thuyết này của C.Mác không chỉ tạo ra bước ngoặt cách mạng trong quan niệm về con người và bản chất con người, về mối quan hệ con người - tự nhiên - xã hội, vị trí và vai trò của con người trong tiến trình phát triển lịch sử nhân loại và sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng nhân loại, phát triển con người toàn diện, mà còn làm nên sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác trong thời đại ngày nay.
Theo tác giả, khi nghiên cứu vấn đề con người, C.Mác đã coi con người là một thực thể sinh học - xã hội hiện thực và khẳng định con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở bên ngoài thế giới, mà con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Do đó, “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực 14 của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” là “luận điểm hết sức nổi tiếng và tiêu biểu cho triết học Mác về bản chất con người. Luận điểm này đã trở thành nền tảng lý luận, cơ sở khoa học cho chủ nghĩa Mác và các khoa học khác khi nghiên cứu, giải quyết vấn đề con người” [139.