phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục và đanh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 7 tiết trình bày trong 108 trang. CHUONG 1 NGUON LUC CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA NGUÒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP. CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA. NGUÒN LỰC CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA NGUÒN LỰC CON NGƯỜI 1.
Nguồn lực con người a. Nguôn lực Dưới dạng tổng quát. nguồn lực được hiểu là toàn bộ các yếu tố cả vật chất lẫn tỉnh thần đã, đang và sẽ có khả năng tạo ra sức mạnh cho sự phát triển và trong những điều kiện thích hợp sẽ thúc đầy quá trình cải biến xã hội của một quốc gia, dân tộc. Tiêu chí để phân loại nguồn lực rất đa dạng, do đó các nguồn lực cũng rất phong phú, trong đó con người cũng được coi là một nguôn lực.
Nguôn lực con người Khái niệm nguồn lực con người được sử dụng từ những năm 60 thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á và giờ đây khá thịnh hành trên thể giới dựa trên quan niệm mới về vai trò, vị trí con người trong sự. Ỡ nước ta, khái niệm này được sử dụng khá rộng rãi kể từ đầu thập. niên 90 thế kỷ XX đến nay. Quan niệm về nguồn lực con người khá đa dạng, được đề cập đến từ những góc độ khác nhau.
Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất. Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được nhìn nhận như. một phương tiện chủ yếu, bảo đám tốc độ tăng trưởng sản xuất và dịch vụ. 10 Trong lý luận về vốn, con người được đề cập đến như một loại vốn, một thành tố cơ bản, tắt yếu của quá trình sản xuất và kinh doanh.
Theo Liên Hiệp Quốc thì nguồn nhân lực là tắt cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước. Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp. của mỗi cá nhân. vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Từ quan niệm mắc xít về con người và mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội. có thể hiểu nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thin, đạo đức, trình độ tri thức, vị thế xã hội.tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong. quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể, Dưới dạng tổng quát. nguồn lực con người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với các đặc điểm của nó trong sự phát triển xã hội.
Với cách hiểu như vậy, khái niệm nguồn lực con người bao gồm những mặt cơ bản sau: Thứ nhất, nguồn lực con người là người lao động, là lực lượng lao động, là nguồn lao động. Từ đó, có thể thấy rằng, muốn khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người thì phải tạo việc làm và khai thác hợp lý nguồn lao. Thứ hai, nguồn lực con người phản ánh khía cạnh cơ cấu dân cư và cơ. cấu lao động trong các ngành, các vùng, cơ cấu lao động đã qua đào tạo, cơ cấu trình độ lao động.
Thứ ba, nguồn lực con người phân ánh chất lượng dân số, đặc biệt là chat lượng của lực lượng lao động trong hiện tại và trong tương lai gần. " Thủ aø, nguồn lực con người là khái niệm hàm chứa cả sự liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố nội tại trong nó; ảnh hưởng qua lại giữa nguồn lực con người với các nguồn lực khác. Thứ năm, nguồn lực con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực bên trong, cơ bản trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội. Thứ sáu, sức mạnh của nguồn lực con người biểu hiện qua sức mạnh của.
thể lực, trí lực, niềm tin, ý chí. ở sự thống nhất biện chứng giữa sức mạnh vật chất và sức mạnh tỉnh thần của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng không chỉ trong thực tế mà còn ở dạng tiềm năng. Bên cạnh khái niệm nguồn lực con người còn có các khái niệm khác liên quan như: nguồn nhân lực, nhân tổ con người, yếu tố con người. tài nguyên con người.Trong thực tế, khái niệm nguồn nhân lực ngoài nghĩa rộng được hiểu như khái niệm nguồn lực con người thường còn được hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn lao động (tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số lao đông dự phòng), thâm chí còn có khi còn được hiểu là lực lượng lao động (số người trong độ tuổi lao động mà có khả năng lao động).
vậy, khái niệm tài nguyên con người còn được sử dụng với hàm ý nhắn mạnh phương diện khách thể củ con người, coi con người như một loại tài nguyên cần được khai thác triệt để, hợp lý, có hiệu quả, đặc biệt là nguỗn tiểm năng trí tuệ trong đó. Như vậy, theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu “nguồn lực con người" là tông hợp toàn bộ các yếu tố thê chất và tỉnh thần của con người, các hoạt động vật chất và tỉnh thần của họ đã, đang vả sẽ tạo ra năng lực, sức mạnh thúc đây sự phát triển xã hội. Phát huy nguân lực con người Phat huy nguồn lực con người chính là nâng cao vai trò của nguồn lực. con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội, qua đó lảm gia tăng giá trị của.
12 con người. Phát huy nguồn lực con người là phát huy tất cả các khả năng. trí tuệ và phẩm chất tỉnh thằn của con người, là nâng cao vai trỏ của nguồn lực con người trong quả trình phát triển kinh tế - xã hội, qua đó làm tăng những giá trị đích thực và ý nghĩa lớn lao của nguồn lực nảy. Từ đó, có thể khẳng định rằng, phát huy nguồn lực con người thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng tựu trung lại là phát huy trên ba mặt cơ.
bản: phát huy nguồn nhân lực; sử dụng, khai thác nguồn nhân lực và tạo môi trường nuôi dưỡng nguồn nhân lực. Điều đó liên quan đến hàng loạt vẫn đề từ việc nuôi dưỡng, giáo dục - đảo tạo đến việc tổ chức khai thác, sử dụng nguồn nhân lực; từ việc phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân đến việc tạo môi trường xã hội thuận lợi cho sự cống hiến và hưởng thụ của con người: từ việc nâng cao năng lực và phẩm chất của người lao động với tư cách là chủ thể nhận thức và hoạt động thực tiễn trong quá trình phát triển kinh tế ~ xã hội đến khâu khai thác hợp lý, có hiệu quả trí lực, thể lực, tâm lực của con người với tư cách là khách thể của sự khai thác; từ việc sử dụng con người với tư cách là một nguồn nhân lực, động lực cho sự phát triển đến việc chăm lo cho con người với tư cách là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã Rõ ràng là những vấn đễ trên nếu thực hiện tốt sẽ phát huy được vai trò của nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Đại hội [X của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định "phát huy nguồn lực con người — yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”[12; tr. Đại hộ X tiếp tục khẳng định: "phát huy nội lực trước hết là phát huy nguồn lực con người”[11; tr. Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh thêm: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất lä nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đây mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh 13 tranh quan trong nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả va bền vững"[13; tr.
Khái niệm phát huy nguồn lực con người có liên quan đến khái niệm phát triển nguồn lực con người. Phát triển nguồn lực con người là làm gia tăng các giá trị con người, làm cho con người trở thành những người lao động có những năng lực và phẩm chất cần thiết, đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò của nguồn lực con người Có thể nói. đẩy mạnh công nghiệp hóa.
hiện đại hóa không đơn gián là công cuộc xây dựng kinh tế, mà chính là quá tình biển đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, phát triển con người, dua dat nước lên một trình độ phát triển mới về chất. Năng lực nội sinh cho sự phát triển đó là nguồn lực con người. Việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Khi nói đến các nguồn lực cơ bản của sự phát triển người ta thường nói tới ba nguồn lực chủ yếu: nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người và nguồn vốn.
Nhưng nếu trước đây, người ta đánh giá cao vai trò của kỹ thuật, của công nghệ, ủa các nguồn lye ty nl thì lên nay, ở hấu hết các quốc gia, người ta nói đến vai trò của con người, của nguồn lực con người. Vì vậy, chính sách đầu tư của các nước đang tập trung vào việc khai thác một cách có hiệu quả nguồn lực con người. Xét trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển kinh tế — xã hội, nguồn lực con người luôn đứng ở vị trí trung tâm, giữ vai trỏ quyết định đối với sự phát triển xã hội. Khẳng định điều đó là do: Thứ nhất, các nguồn lực khác (vốn, tài nguyên thiên nhiên.) tồn tại dưới dạng tiềm năng, chúng chỉ trở thành động lực của sự phát triển khi kết hợp với nguồn lực con người, trở thành khách thể chịu sự cải tạo, khai thác và 14 sử dụng của con người.
Thứ hai, so với các nguồn lực khác, chỉ có nguồn lực con người mà cốt lõi là trí tuệ mới, là nguồn lực có tiềm năng vô hạn.