Chương 1. Cơ sở lý luận của việc định hướng hoạt động học tập tự lực của học sinh - Chương 2. Xây dựng tiến trình dạy học nhằm phát huy khả năng tự lực học tập - Chương 3. Thực nghiệm sư phạm - Kết luận - Tài liệu tham khảo - Phụ lục CHUONG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VIỆC ĐỊNH HUONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TỰ LỰC CỦA HỌC SINH Trong chương nay chúng tôi trình bay những co sở lý luận làm sáng tỏ những van đề: tự lực học tập, các xu thế trong dạy học hiện nay và vai trò định hướng của người giáo viên trong hoạt động học tập cũng như các phương pháp định hướng giúp học sinh có khả năng tự lực học tập. Y Hoạt động giáo dục ở thế kỷ XXI vé Tự lực hoc tập * Định hướng hành động hoc tập 1.1 Hoạt động giáo dục ở thế kỷ XXI 1.1 Hoạt động dạy - học Bản chất của hoạt động học tập là quá trình nhận thức những kiến thức, kinh nghiệm mà nhân loại da tích lũy, “biến kinh nghiệm xã hội lịch sử thành kinh nghiệm của chính bản thân học sinh” [34]. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “học tập là quá trình tự điều khién tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa hoc, trong và bằng cách đó mà hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn điện” [34]. Như vậy học tập là hoạt động nhận thức tích cực.
tự chủ của học sinh nhằm chiếm lĩnh tri thức nhân loại. Bán chất của hoạt động dạy người giáo viên hướng dẫn học sinh tự học, đào sâu kiến thức, tự điều chỉnh, nghiên cứu, “người thầy giúp người học tự hiểu bản thân mình đẻ biến đôi mình, mỗi ngày một tiến bộ” [31]. “cần hiểu dạy học là day hành động: tô chức, điều khiển hành động học tập của học sinh” [34]. Như vậy kiến thức của mỗi cá nhân là đo tự bản thân xây dựng, là kết quả của qua trình tìm tỏi, suy nghĩ, nghiên cứu, vì vậy “không thé quan niệm sự hình thành kiến thức của học sinh chỉ đơn thuần là sự in vào dau óc học sinh những cầu chữ, xem như những cái có sẵn tôn tại độc lập với học sinh.
Không thé xem sự day của giáo viên chi đơn thuần là sự trình diễn kiến thức, chi cần cỗ gắng trình diễn chính xác, rõ ràng và day đủ sao cho in đậm vào dau óc học sinh đúng những câu chữ như thế. Nếu chỉ như vậy thì không the đảm bao cho hoc sinh thực sự nắm được định nghĩa của kiến thức” [2]. * Trong quá trình day học, hoạt động học tập của học sinh diễn ra dưới sự chi đạo trực tiếp của giáo viên, với sự giúp đỡ của giáo viên nhiều hoặc ít khác nhau, tùy trình độ của học sinh và tùy giai đoạn của sự học tập. Nhưng cuối cùng bao giờ cũng phải thông qua hoạt động tự lực hoàn toàn độc lập của học sinh và chỉ có thông qua hoạt động tự lực hoàn toàn độc lập của học sinh mới dam bao cho họ thực hiện sự lĩnh hội được nội dung học tập một cách vững chắc và đồng thời rèn luyện được khả năng tự học và độc lập công tác.
Muốn học sinh vận dụng kiến thức đã học ở nhà trường thì quá trình học tập không chi là quá trình thụ động “thay đọc, trò chép” cần phải là quá trình tương tác giữa người giáo viên và học sinh trong đó người học sinh giữ vai trò trọng tâm và tự lực giải quyết van dé trên cơ sở định hướng của giáo viên. “Dac điểm cơ bản của giảng dạy là tạo ra vùng phát triển gần tức là kích thích trẻ hoạt động, thức tỉnh một loại các quá trình phát triển nội tại và đưa chúng vào cuộc chuyển động, các quá trình phát triển nội tại này hiện giờ đang là khả năng chỉ trong phạm vi qua lại với các người xung quanh và hợp tác với bạn hữu và các quá trình nội tại này trải qua một tiền trình phát triển, sau đó trở thành thành tựu bên trong cho chính trẻ”. [1] Như vậy, việc giáo dục cho học sinh tự lực học tập trên cơ sở định hướng của giáo viên tạo điều kiện bước đầu cho sự tự lực của học sinh trong học tập bên cạnh đó việc tự lực học tập cla học sinh phim hình thành khả năng tự lực nghiên cứu các van dé, phát trién kỹ năng nghiên cứu, “ban chat của hoạt động tô chức học tập là tô chức hoạt động nhận thức tích cực, sáng tạo, chủ động cho học sinh, hình thành năng lực tự té chức, sắp xếp quá trình học tập hợp lý phù hợp với điều kiện của bản thân người học dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của các lực lượng giáo dục và vai trò chủ động tích cực của người học là yeu tố "nội lực” của sự phát triển, sự tác động của giáo viên và các yếu to khác là "ngoại lực". Hiệu quả cao nhất của đào tạo là có sự cộng hưởng giữa nội lực và ngoại lực” [6].2 Xu thế của giáo dục Đổi mới phương pháp dạy học đang được xã hội quan tâm và là yêu cầu cấp bách của thời đại.
Do đó, có rất nhiều tác giả nghiên cứu và tìm hiểu van dé này: - Theo Võ Phước Lộc hiện nay nước ta nhìn chung có ba xu hướng đối mới phương pháp dạy học rat có triên vong:[25] + Phát triển công nghệ day học hiện dai (Technology of teaching). Lựa chọn tối đa trong thé chọn lựa tối ưu các phương pháp, phương tiện day học hiện đại. Đặc biệt chú trọng tự học có hướng dan, có hệ đánh gia hệ lượng kiến thức và kỹ năng của học sinh. + Dạy học theo khuynh hướng sáng tạo học (Creatology).
Vận dụng tất cả thế mạnh của phương pháp dạy học nhằm kích thích và đảm bảo đầy đủ cho năng lực và môi trường sáng tạo của người học. Có hệ chuẩn đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh theo năm cấp độ khác nhau. Đây là xu thế quan trọng, đây mạnh sự tự học, chịu khó sáng tạo của người học. + Xu hướng thứ ba, tạm gọi là cách tân truyền thống, chuyển mình đón nhận những thành tựu dạy học hiện đại, lay phương pháp nêu vấn đề - đối thoại làm then chốt.
Vận dụng linh hoạt tất cả các phương pháp nhằm đạt hiệu quả tối ưu trong giảng day. Tùy tình hình cụ thể có thé có lộ trình thích hợp, từng bước tiến tới đổi mới toàn diện. - Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn — Nguyễn Kỳ — Vũ Văn Tảo — Bùi Tường [31] + Chuyén từ kiểu đào tạo lấy thầy và kiến thức làm trung tâm sang kiểu đào tạo lấy trò và năng lực làm trung tâm. + Học là xuất phát điểm dé thiết kế việc dạy.
Dạy là xuất phát điểm dé thiết kế việc đào tạo giáo viên. - Theo tác gia Trịnh Văn Biéu một số xu hướng đổi mới cơ bản trong phương pháp day học ở nước ta cũng như trên các nước thé giới: [1], [25]. + Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học. Chuyén trọng tâm hoạt động của giáo viên sang trọng tâm hoạt động của hoc sinh.
Chuyén từ lối học thông báo tái hiện sang tìm tòi, khám phá. Tạo điều kiện cho học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo. + Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời. Không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cách học, trang bị phương pháp học tập, phương pháp tự học để thực hiện phương châm học suốt đời.
+ Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của học sinh, theo cấp học và bậc học). - Những định hướng đôi mới phương pháp giảng dạy vật lý ở trường trung học phô thông [5], [6] + Sử dụng các phương pháp đạy học tiên tiến theo tỉnh thần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. + Chuyên từ phương pháp chủ yếu là diễn giảng của giáo viên sang phương pháp chủ yếu là tô chức cho học sinh hoạt động đề tự lực, chiếm lĩnh kiến thức và kỹ năng. + Tăng cường học tập cá nhân.
phối hợp hài hòa với học tập hợp tác. + Coi trọng bồi đưởng phương pháp tự học. + Coi trọng rèn luyện kỹ năng ngang tầm với truyền thụ kiến thức. + Tăng cường làm thí nghiệm trong day học.
+ Đôi mới cách soạn giáo án trong đó giáo viên phải có định hướng cho học sinh hoạt động tích cực, là người chỉ đạo hoạt động, với chức năng quan trọng là tô chức tình huồng học tập, kiểm tra, định hướng hoạt động học và thé chế hóa kiến thức.3 Đặc trưng của việc học ở thé ky XXI 1.1 Học tập là suốt đời Quan điểm học là suốt đời là chìa khóa mở cửa vào the ky XXL Nó gắn liền với quan niệm về xã hội hóa học tập, ở đó tất đều có có thê cung cấp một cơ hội học tập và phát huy tiềm năng của mình. Giáo dục thường xuyên mở ra kha năng dao tạo giáo dục cho moi người vì nhiều mục đích khác nhau - như cung cấp cơ hội thứ hai, thử ba, nhằm đáp ứng sự hiểu biết, sự khát khao cái đẹp hoặc lòng ham muốn vượt qua chính bản thân minh, hoặc mở rộng và hoàn thiện các cách đảo tạo theo hướng gắn bó chặt chẽ với những. đòi hỏi của cuộc sông nghẻ nghiệp, ké cả cách đào tạo trong thực tiễn.2 Bốn trụ cột của giáo duc [2], [31], [32] 1.1 Học để biết - Học kiến thức, học cách tư duy. Đề tạo cho mình năng lực tư duy.
- Học cách học đề tạo cho mình năng lực tự học và thói quen tự học suốt đời. - Hiểu cách năm vững những công cụ sử dụng kiến thức, rèn luyện những khả năng phê phán, tò mò và trí nhớ.2 Học dé làm - Học ky nang nghề nghiệp (biết cách sử dụng kiến thức). - Việc học phải gắn với việc làm, kiến thức gắn với thực tiễn. - Khả nang đối mặt với các tình huống và biết làm việc đồng đội.3 Học để cùng sống với nhau - Có cách nhìn đúng về thế giới.
- Cảm nhận sâu sắc sự phụ thuộc lắn nhau trong cuộc sông hiện tại. - Hiểu được người khác thông qua sự hiệu chính mình.4 Học để làm người - Giáo dục là một "hành trình nội tai” dẫn đến sự xây dựng nhân cách của mỗi con người. - Mỗi cá nhân phải có năng lực tự chủ, xét đoán cao hơn, gắn bó với sự tăng cường trách nhiệm cá nhân và nỗ lực nhằm mục tiêu chung. Vậy giáo dục không thé coi nhẹ bat kỳ tiềm năng nào của cá nhân: trí nhớ.