phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng, 6 tiết. Lý luận chung về dân chủ và phát huy dân chủ cơ sở. Thực trạng thực hiện dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Quan điểm và giải pháp phát huy dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ PHÁT HUY DÂN CHỦ CƠ SỞ 1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ DÂN CHỦ VÀ NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa 1. Sự ra đời và phát triển của dân chủ Phạm trù “dân chủ” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp gồm “demos” (nhân dân) và “kratos” (quyền lực, chính quyền), kết hợp thành “demoskratos” nghĩa là quyền lực của nhân dân, chính quyền của nhân dân.
Dân chủ có nghĩa là nhân dân làm chủ mọi quyền lực xã hội. Đó là mơ ƣớc từ xƣa của nhân loại và đƣợc các nhà tƣ tƣởng tiến bộ nêu ra từ rất sớm trong lịch sử. Trải qua các chế độ xã hội khác nhau, nhƣng dân chủ vẫn luôn là một nhu cầu khách quan, là khát vọng của nhân dân các nƣớc, “dân chủ là một giá trị xã hội mang tính toàn nhân loại” [25]. Qua mỗi thời đại, mỗi hình thái kinh tế - xã hội, khái niệm “dân chủ” ngày càng đƣợc triển khai phong phú hơn từ chiều rộng, chiều sâu đến quy mô, liên quan đến nhận thức, hành vi con ngƣời, các cộng đồng xã hội và hoạt động của nhà nƣớc.
Ở mỗi thời đại, dân chủ mang những đặc trƣng về hình thức, nội dung, bản chất của thời đại đó. Từ hàng ngàn năm trƣớc Công nguyên, con ngƣời đã biết hợp lực để sản xuất, chống thiên tai, thú dữ và đã tổ chức ra những hoạt động chung mang tính xã hội, trong đó có việc cử ra những ngƣời đứng đầu để thực thi những quy định, điều hành hoạt động chung. Đồng thời, cộng đồng sẽ phế bỏ những ngƣời đó, nếu họ không thực hiện những quy định chung theo lợi ích 11 và ý nguyện của mọi ngƣời. Đây là một trong những quyền vốn có đƣơng nhiên của mọi thành viên trong cộng đồng.
Quyền lực ấy là ngang nhau đối với mọi thành viên trong thị tộc, bộ lạc. Ngay từ xã hội cộng sản nguyên thủy, con ngƣời đã biết sống gắn bó với nhau thành cộng đồng để tồn tại và phát triển. Họ biết sử dụng sức mạnh của cộng đồng để thực hiện quyền sống, quyền tự do và quyền mƣu cầu hạnh phúc. Một hình thức manh nha của dân chủ đã xuất hiện mà Ăngghen gọi là “dân chủ quân sự” hay “dân chủ nguyên thủy”.
Thông qua Đại hội nhân dân, nhân dân đã bầu ra Hội đồng thị tộc và Thủ lĩnh quân sự, đồng thời quyết định những vấn đề quan trọng của thị tộc. Trong hình thức “dân chủ quân sự", quyền lực của nhân dân "thiêng liêng và bất khả xâm phạm, đều là một quyền lực tối cao do tự nhiên ban cho quyền lực mà mỗi ngƣời phải phục tùng một cách vô điều kiện, trong tình cảm, tƣ tƣởng, và hành động của mình" [9, tr. Sự phát triển của lực lƣợng sản xuất dẫn tới sự ra đời của chế độ tƣ hữu, xã hội chiếm hữu nô lệ ra đời thay thế cho xã hội công xã nguyên thủy, xuất hiện sự phân chia thành hai giai cấp đối lập là chủ nô và nô lệ. Quyền lực công cộng đƣợc tổ chức thành nhà nƣớc do giai cấp chủ nô chi phối, nắm giữ.
Hình thức “dân chủ nguyên thủy” tan rã, nền dân chủ chủ nô ra đời. Đặc trƣng của nền dân chủ chủ nô là dân tham gia bầu ra nhà nƣớc. Tuy nhiên, giai cấp chủ nô quy định: “Dân” chỉ gồm giai cấp chủ nô và phần nào thuộc về các công dân tự do là tăng lữ, thƣơng gia và một số trí thức. Đa số còn lại không phải “dân” mà là “nô lệ”, họ không đƣợc tham gia vào việc bầu ra nhà nƣớc.
Nhƣ vậy, nghịch lý lớn nhất của chế độ dân chủ trong xã hội chiếm hữu nô lệ là lực lƣợng sản xuất lớn nhất, tạo ra của cải cho xã hội - giai cấp nô lệ - lại chỉ đƣợc coi là “công cụ sản xuất biết nói”, không có bất kỳ một quyền lợi chính trị nào. Chuyển sang xã hội phong kiến, nông dân, nông nô có quyền “tự do” nhƣng chỉ là thần dân, là bầy tôi của các ông vua – có nghĩa là công cụ, 12 phƣơng tiện của ngƣời cầm quyền. Quyền lực chính trị, quyền lực nhà nƣớc nằm trong tay chúa đất và nhà thờ (thế quyền và thần quyền). Với các hình thức tổ chức quyền lực của nhà nƣớc, giai cấp phong kiến đã thủ tiêu những tiến bộ của nền dân chủ chủ nô trƣớc đó, thiết lập nhà nƣớc quân chủ của giai cấp mình.
Dân chủ tƣ sản ra đời cùng với thắng lợi của các cuộc cách mạng tƣ sản ở các nƣớc châu Âu. Sự xuất hiện của nền dân chủ tƣ sản gắn liền với sự hình thành của phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa. Đặc trƣng cơ bản của nền dân chủ tƣ sản là xác lập nhà nƣớc pháp quyền và xã hội công dân, dựa trên chế độ sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất chủ yếu. So với chế độ quân chủ phong kiến, dân chủ tƣ sản ra đời là một bƣớc tiến lớn của nhân loại.
Lênin khẳng định: Cộng hoà tƣ sản, nghị viện, phổ thông đầu phiếu đó là sự tiến bộ lớn lao xét từ quan điểm phát triển xã hội trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, để bảo về quyền thống trị về chính trị, kinh tế, giai cấp tƣ sản đã thẳng tay sử dụng chuyên chính đàn áp các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Trong nền dân chủ tƣ sản, dân chủ không phải là mục tiêu mà giai cấp tƣ sản theo đuổi với ý nghĩa là đem lại tự do, bình đẳng, công bằng, quyền làm chủ thật sự cho nhân dân lao động, mà chủ yếu là một phƣơng thức, phƣơng tiện để duy trì, quản lý xã hội tƣ sản, bảo vệ quyền lợi, quyền lực thống trị của giai cấp tƣ sản. Ăngghen cho rằng: Nền dân chủ tƣ sản chỉ là nền dân chủ dành cho thiểu số bóc lột, tức là giai cấp tƣ sản dựa trên sự tƣớc đoạt tự do của công nhân và nhân dân lao động.
Lênin cũng đã nhận xét: “Ngay trong giai đoạn phát triển nhất của nền cộng hòa dân chủ tƣ sản thì chế độ dân chủ ấy vẫn bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tƣ sản, thực ra, nó chỉ là chế độ dân chủ đối với thiểu số mà thôi” [34, tr. Trong xã hội tƣ bản mâu thuẫn giữa tính chất giai cấp của giai cấp tƣ sản cầm quyền với tính nhân dân (tính vô sản) của dân chủ càng trở nên 13 gay gắt. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến cách mạng vô sản để giải quyết mâu thuẫn trên bằng việc thiết lập chế độ dân chủ XHCN. Thắng lợi chính trị của Cách mạng Tháng Mƣời Nga (1917) và các cuộc cách mạng XHCN khác đã đƣa giai cấp công nhân và nhân dân lao động từ địa vị những ngƣời nô lệ bị bóc lột và áp bức lên địa vị những ngƣời chủ của xã hội.
Chính quyền đã thuộc về tay của giai cấp công nhân với tƣ cách là nhà nƣớc kiểu mới, là bộ máy quản lý và điều hành mọi hoạt động của xã hội để thực hiện quyền làm chủ của những ngƣời lao động đã đƣợc giải phóng. Đặc trƣng cơ bản của nền dân chủ XHCN là thực hiện quyền lực của nhân dân, tức là xây dựng nhà nƣớc dân chủ thực sự, dân làm chủ nhà nƣớc và xã hội, bảo vệ quyền lợi cho đại đa số nhân dân. Dân chủ XHCN là nền dân chủ cao hơn về chất so với nền dân chủ có trong lịch sử nhân loại, là nền dân chủ mà ở đó, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, dân là chủ và dân làm chủ, dân chủ và pháp luật nằm trong sự thống nhất biện chứng, đƣợc thực hiện bằng nhà nƣớc pháp quyền XHCN , dƣới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Từ cách tiếp cận nhƣ trên, có thể hiểu dân chủ là một giá trị xã hội phản ánh những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền; có quá trình ra đời, phát triển cùng với lịch sử xã hội nhân loại.
Với tƣ cách là một nhà nƣớc, một chế độ chính trị, trong lịch sử có 3 chế độ (nền) dân chủ: nền dân chủ chủ nô gắn với chế độ chiếm hữu nô lệ; nền dân chủ tƣ sản gắn với chế độ tƣ bản chủ nghĩa; nền dân chủ XHCN gắn với chế độ XHCN. “Dân chủ có nghĩa là mọi quyền hạn thuộc về nhân dân. Dân phải thực sự là chủ thể của xã hội và hơn nữa, dân phải đƣợc làm chủ một cách toàn diện: Làm chủ năng lực sáng tạo của mình với tƣ cách chủ thể đích thực của xã hội. Mặt khác dân chủ phải bao quát tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, từ dân chủ trong kinh tế, dân chủ trong chính trị đến dân chủ trong xã hội và dân chủ trong đời sống văn hóa - tinh thần, tƣ tƣởng, trong đó 14 hai lĩnh vực quan trọng hàng đầu và nổi bật nhất là dân chủ trong kinh tế và dân chủ trong chính trị” [5, tr 69].
Ở Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nƣớc công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á đƣợc thiết lập. Nhân dân ta từ địa vị nô lệ làm thuê đã trở thành ngƣời chủ của đất nƣớc. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc đi lên CNXH, nhân dân miền Bắc đã trở thành chủ thể của mọi quyền lực. Năm 1975 đất nƣớc hoàn toàn thống nhất, nhân dân cả nƣớc ta trở thành ngƣời chủ của mọi quyền lực trong đó có quyền lực chính trị, quyền lực nhà nƣớc, HTCT XHCN đƣợc thiết lập trên phạm vi cả nƣớc.
Từ đó đến nay nền dân chủ XHCN đã và đang đƣợc xây dựng phát huy vai trò ngày càng to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nƣớc.