Đặt vấn đề Dura (Ananas comosus) là một trong những cây ăn quả nhiệt đới hàng dau thé giới, với giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao nhờ vào đặc tính như chứa nhiều đường, lượng calo khá cao, giàu chất khoáng, có đủ các loại vitamin cần thiết. Cây dứa đã góp phần quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo cho hàng triệu nông dân ở nhiều địa phương trong cả nước. Bên cạnh những thành công thuận lợi đó thì ngành trồng đứa dang gặp phải một van dé khá lớn là sâu hại, dịch bệnh phá hoại trên điện rộng. Bệnh héo đỏ dau lá đứa là một bệnh nghiêm trọng nhất của cây dita, bệnh gây hư hại toàn bộ hệ thống rễ, bề mặt lá bị đỏ vàng và héo, dẫn đến suy thoái toàn bộ cây.
Từ đó dẫn đến cây dứa tăng trưởng kém, trái teo nhỏ, không thành thương phẩm. Dù bộ Nông Nghiệp đã đưa ra rất nhiều phương pháp dé giảm thiểu khả năng thiệt hai và lây lan nhưng cũng có nhiều cây mang mam bệnh PMWaV nhưng không biểu hiện triệu chứng ra bên ngoài, cây van phát triển bình thường, gây khó khăn trong việc nhận dạng và phát hiện bệnh này. Bệnh héo đỏ dau lá do virus gây bệnh tên Pineapple Mealybug Wilt-associated Virus (PMWaV) gây ra, thuộc họ Closteroviridae (Sether và Hu, 2002b). Hiện trên thế giới PMWaV hiện được công nhận với ba loài khác nhau gay hại trên cây dứa: PMWaV- 1, PMWaV-2, PMWaV-3, ngoài ra còn có PMWaV-4 và PMWaV-5.
Tuy nhiên nhiều cây dứa mang mầm bệnh PMWaV nhưng không biểu hiện triệu chứng, cây vẫn phát triển bình thường mang tiềm ấn nguy cơ lây nhiễm chéo, gây khó khăn trong việc nhận dạng, xử lý và ngăn ngừa lây lan bệnh này. Chính vì vậy, đề tài “Xây dựng quy trình phát hiện virus PMWaV (Pineapple mealybug wilt-associated virus) gay bệnh héo đỏ dau lá trên đứa bang phương pháp Multiplex RT-PCR” đã được thực hiện. Mục tiêu của đề tài Xây dựng thành công quy trình phát hiện virus PMWaV (Pineapple mealybug wilt-associated virus) gây bệnh héo đỏ đầu lá trên đứa bằng phương pháp Multiplex RT- PCR và áp dụng thành công quy trình lên mẫu thực địa. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Xây dựng được quy trình phát hiện virus PMWaV (Pineapple mealybug wilt-associated virus) bằng phương pháp Multiplex RT-PCR.
Nội dung 2: Áp dụng quy trình lên mẫu thực dia. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Tổng quan về cây dứa 2. Nguồn gốc Đã có rất nhiều nghiên cứu và thành công chỉ ra nguồn gốc xuất phát của loài cây dứa, theo đó cây dứa bắt nguồn từ Nam Mỹ - vùng đất phía Nam Brazil và Paraguay (khu vực sông Parama — Paraguay).
Sau đó chúng thông qua các du khách và thương lái nhanh chóng được phân tán sang các nơi khác trên thế giới (Morton, 1987). Vào thế kỷ XVI-XVII, đứa đã có ở hầu hết các nơi trên thế giới như Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, bờ biển châu Phi, Ha Lan và Anh. Ở châu Âu, đứa đã trở thành một loại trái cây tráng miệng sang trọng, cao cấp và được coi là biểu tượng của xã hội thượng lưu. Sau một thời gian đài thuần hóa, phát triển và chọn lọc thì cây đứa ngày nay không có hạt, kích thước quả lớn, độ ngọt cao, mọng nước, ngoài ra hương vị cũng được cải thiện như ngày nay.
Phan loại Họ Dứa (Bromeliaceae) là một họ lớn của thực vật có hoa, bao gồm khoảng 2794 loài và 56 chi. Chúng thích nghỉ với nhiều loại môi trường sống khác nhau từ trên cạn đến biéu sinh, ram mát đến nang nóng và từ vùng nhiệt đới nóng âm đến cận nhiệt đới khô lạnh. Chúng có thể phát triển trong điều kiện 4m ướt đến cực kỳ khô hạn và ở các độ cao khác nhau (Purseglove, 1975). Phân loại khoa học: Giới (Kingdom): Plantae Ngành (Phylum): Anthophyta Lớp (Class): Lilopsida Bộ (Order): Poales Họ (Familia): Bromeliaceae Phan ho (Subfamily): Bromelioideae Chi (Genus): Ananas Loai (Species): Ananas comosus 2.
Thành phần dinh dưỡng Hiện nay đứa được trồng hau hết ở mọi nơi trên thế giới nhờ quả mang lại hương vị thơm ngon và hàm lượng thành phần dinh dưỡng cao, đặc biệt hơn cả là tầm quan 3 trọng sinh học của chúng. Theo phân tích của Bộ Nông nghiệp Hoa Ki (USDA) trong 100 g thịt đứa tươi cho thấy thành phần chính là nước chiếm 81% - 86%, trong khi tổng chat rắn là 13% - 19%. Phan rắn chứa khoảng 85% carbohydrate (chủ yếu là sucrose, glucose và fructose), 15% còn lại bao gồm các chất dinh dưỡng thiết yêu khác. Công dụng Quả dita chín là món trái cây thông dụng trên thế giới hiện nay, màu vàng tươi mong nước và mùi vi thơm ngon đã giúp chúng trở thành một món ngon giải khát tuyệt vời.
Ở nhiều nước Châu Á và Châu Mỹ Latinh quả dứa chín gọt vỏ được bày bán phổ biến trên đường phó. Không chỉ vậy mà còn có nhiều cách khác dé ăn dứa như việc đóng hộp hoặc làm nước ép trái cây, đứa còn được chế biến dé sản xuất rượu, giam dứa va axit xitric (Loeillet, 1995). La đứa tao ra một loại sợi chắc, màu trắng, mềm mượt được người Philippines chiết xuất trước năm 1591. Toàn bộ quá trình xử lý đến thành phẩm hoàn toàn là thủ công, đầu tiên chúng được tách lớp vỏ bằng cách đập, cào và tước bỏ, sau đó để ngâm trong nước khoảng 5 ngày và tách các sợi (Asim va ctv, 2015).000 lá sẽ tạo thành một tấn và sẽ mang lại 22 - 27 kg sợi.
Ở Ấn Độ, sợi chỉ được các thợ đóng giày đánh giá cao và sử dụng phô biến. Ở Tây Phi, nó đã được sử dụng đề xâu chuỗi đồ trang sức và cũng được làm thành áo choàng và mũ của các thủ lĩnh bộ lạc. Người dân đảo Guam tự tay xoắn sợi dé làm lưới bắt cá. Họ cũng sử dụng sợi dé gói hoặc khâu xì gà.
Vải Pina được làm trên đảo Panay ở Philippines và ở Đài Loan được đánh giá cao. Ở Đài Loan, họ cũng làm vải thô đề làm đồ lót cho nông dân (Joy, 2010). Từ xa xưa, dứa đã được sử dụng cho mục đích y học ở nhiều quốc gia và cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ ngày nay đã có nhiều bằng chứng về giá trị dinh dưỡng và các thành phần có lợi của dứa khiến cho loại trái cây này luôn nhận được quan tâm của giới nghiên cứu và mọi người. Bromelain có trong toàn bộ cây dứa, nhưng nhiều nhất trong thân và quả.
Khoảng 12 g/ngày bromelain có thể được hấp thụ một cách an toàn ma không có tác dụng phụ. Khi dùng đường uống, khoảng 40% các thành phần có trọng lượng phân tử cao sẽ đi vào máu thành công (Rowan và Buttle, 1994). Theo nghiên cứu được thực hiện bởi Akhtar và ctv trong bệnh viêm tắc tĩnh mạch, cục máu đông sẽ chặn nguồn cung cấp máu trong một hoặc nhiều tĩnh mạch. Tác dụng của bromelain trong những điều kiện này đã được nghiên cứu và thấy là có hiệu quả trong việc loại bỏ cục máu đông bang cách can thiệp vào fibrinogen, do đó tạo điều kiện cho 4 máu chảy tự do qua các mach mau (Livio và ctv, 1978).
Theo những phát hiện của Castell và ctv (1997), bromelain không mất hoạt tính phân giải protein trong huyết tương. Khi được kiểm tra, bromelain ở thỏ được phát hiện là hoạt động ngay cả khi có hai glycoprotein chống phân giải protein tự nhiên của máu. Tình hình trồng trọt và sản xuất 2. Trên thế giới Dứa là một trong những loại cây ăn quả quan trọng trên thế giới đứng hàng thứ 3 sau chuối và cây có múi, với tổng sản lượng dứa đạt 20 triệu tắn/năm.
Trong đó, châu Á chiếm 50 % sản lượng, châu Mỹ chiếm khoảng 33 % sản lượng. Vào năm 2021, Costa Rica, Indonesia và Philippines là ba nhà sản xuất đứa hàng đầu trên toàn thế giới. Costa Rica đã sản xuất 2,9 triệu tắn dứa trong năm đó. Tổng sản lượng dứa trong năm đó lên tới khoảng 28,65 triệu tan (Shahbandeh, 2023).
Ở trong nước Dứa là một trong những cây trồng chủ lực trong sản xuất cây ăn quả nước ta với diện tích hiện có 48 nghìn ha, sản lượng quả tươi hàng năm trên 700 nghìn tấn (chiếm khoảng 4,1 % tổng diện tích và 5.8 % tổng sản lượng trái cây cả nước). So với cả nước, vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng trồng dứa lớn nhất, chiếm 63 % diện tích và 71 % sản lượng dứa cả nước, điền hình là địa phương có tiếng về dứa như: Dita Đồng Giao (Ninh Bình), Khóm Tắc Cậu (Kiên Giang), Khóm Cầu Đúc (Hậu Giang), Khóm Hỏa Tiên (Hậu Giang), Khóm Tân Lập (Tiền Giang),. Cây dứa có khả năng mở rộng diện tích tại các vùng khó khăn (như vùng đất nhiễm phèn, nhiễm mặn tại các tỉnh phía Nam, vùng đồi núi một số tỉnh phía Bắc,. Bệnh héo đỏ đầu lá trên cây dứa 2.
Tác hại Bệnh héo đỏ đầu lá là một bệnh nghiêm trọng nhất của cây dita, bệnh xuất hiện lần đầu tại Hawaii từ những năm 1900 và đến nay bệnh đã phổ biến ở các vùng trồng dứa trên khắp thế giới như Mỹ, Đài Loan, Singapore, Brazil, Jamaica, Philippines, Venezuela, Thai Lan, Malaysia và cả ở Việt Nam (Hu, 2002). Đây là bệnh rất nguy hiểm. anh hưởng lớn đến nghề trồng dita khi bệnh xuất hiện và phát triển. Không như các bệnh khác trên đứa do vi khuẩn, nắm hay tuyến trùng đều có các loại thuốc phòng trị đặc hiệu, bệnh héo đỏ đầu lá đứa cho đến nay vẫn chưa có biện pháp phòng trừ triệt dé ngoài việc hạn chế sự lây lan bằng cách diệt môi giới truyền bệnh.
Virus gây bệnh được bảo tồn và lan truyền cho đời sau chủ yếu qua chỗi giống và tàn dư thực vật. Những chồi giống mang mầm bệnh lại thường chỉ biểu hiện triệu chứng vào giai đoạn cây đang phân hóa mầm hoa trở đi, tức là sau một thời gian trồng rất đài (9 - 12 tháng). Chính đặc điểm này của bệnh héo đỏ đầu lá đã gây nên những thiệt hại kinh tế to lớn cho người trồng dứa. Ở Hawaii vào năm 1920, sản lượng dứa bị giảm thấp đáng ké do sự lan tràn mạnh mẽ của bệnh đã làm nhiều nhà sản xuất phải bỏ nghề trồng dứa.
Theo các nghiên cứu trước đây, căn bệnh này đã dẫn đến nhiều thiệt hại cho phan lớn ngành công nghiệp đứa trên thế giới, bao gồm Hawaii và Cuba lần lượt là 35% và 40% (Pretty và ctv, 2012; Tryono, 2006; Borroto và ctv, 2007). Ở Indonesia, bệnh này cũng đã lây lan sang nhiều đồn điền dứa như Blitar, Subang, Simalungun và Bogor với tỉ lệ lần lượt là 90%, 60 - 70%, 50 - 60% và 50% (Hutahayan, 2006).