Đặt vấn đề Cà chua (Solanum lycopersicum L.) là một loại rau quả được sử dụng làm thực phẩm có nguồn gốc từ Nam Mỹ va trở nên phổ biến hơn tại Châu Âu vào cuối thé kỷ 16. Năm 2019, diện tích trồng cà chua trên thế giới là 5,03 triệu ha, với sản lượng 181 triệu tan (FAOSTAT, 2021). Ở Việt Nam, cà chua được trồng và tiêu thụ phổ biến trong nước, trở thành loại rau ăn quả chủ lực nên được Bộ Nông nghiệp va Phát triển Nông thôn (PTNT) ưu tiên phát triển, mở rộng diện tích canh tác. Song song với đó, việc canh tác cả chua gặp không ít khó khăn do bệnh hại gây ra, chủ yếu đến từ các tác nhân như vi khuẩn, nắm, tuyến trùng, phytoplasma và virus.
Bệnh do virus khó phát hiện, ty lệ lây lan cao nên đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc trồng trọt và xuất khâu cà chua. Chi 7obzmovirus gây ảnh hưởng kinh tế nặng nề nhất, điển hình là ToMV và ToMMV cùng gây nên triệu chứng khảm trên lá, hạt virus quan sát dưới kính hiển vi có hình thái khó phân biệt. Do đó, việc xác định loài chính xác, tránh khả năng phản ứng huyết thanh học chéo giữa các loài trong chỉ Tobamovirus gây bệnh trên cà chua nhằm giảm thiệt hại về kinh tế cho người dân là việc ưu tiên hàng đầu. Phương pháp Multiplex RT — PCR là phương pháp khuếch đại nhiều trình tự DNA trong cùng một phản ứng PCR bằng cách sử dụng nhiều primer nên đáp ứng được tat cả các yêu cầu trên, thời gian thực hiện ngắn và tiết kiệm hóa chất so với các kỹ thuật như RT-PCR, ELISA.
Chính vì thế, đề tài “ Xây dựng quy trình phát hiện ToMV (Tomato mosaic virus) và ToMMV (7omafo mottle mosaic virus) bằng kỹ thuật Multiplex RT — PCR” được thực hiện. Mục tiêu nghiền cứu Xây dựng được quy trình phát hiện virus ToMV (Tomato mosaic virus) va ToMMV (Tomato mottle mosaic virus) bằng kỹ thuật Multiplex RT - PCR và ứng dụng thành công quy trình trên mẫu thực dia. Nội dung nghiên cứu Xây dụng và chuẩn hóa quy trình phát hiện virus ToMV (Tomato mosaic virus) và ToMMV (Tomato mottle mosaic virus) bang kỹ thuật Multiplex RT — PCR. 1 Ap dụng quy trình phát hiện virus ToMV (Tomato mosaic virus) và ToMMV (Tomato mottle mosaic virus) bang kỹ thuật Multiplex RT — PCR trên mẫu thực địa.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Tống quan về cây cà chua 2. Phan loại khoa học Giới (Regnum): Plantae Ngành (Phylum): Anthophyta Lớp (Class): Magnoliopsida Lớp phụ (Subclass): Asteridae Bộ (Ordo): Solanales Ho (Familia): Solanaceae Phan ho (Subfamilia): Solanoideae Tông (Tribus): Solaneae Chi (Genus): Solanum Loai (Species): Solanum lycopersicum Phân loại cà chua là một van đề gây tranh cãi nhất từ trước đến nay. Cà chua thuộc họ Solanaceae cùng với các cây trồng kinh tế quan trọng khác như tiêu, cà tím và khoai tây dựa trên sự giống nhau giữa lá và hoa.
Năm 1753, cà chua được Carl Linnaeus xếp vào chi Solanum với tên gọi Solanum lycopersicum L. Tuy nhiên vào năm 1768, Philip Miller đã xếp nó vào chi Lycopersicon và đặt tên là Lycopersicon esculentum. Việc phân loại theo chi Lycopersicon được duy trì bởi các nhà thực vật học như Muller (1940), Correll (1962), Symon (1981), D'Arcy (1991), Hunziker (2001). Tuy nhiên Wettstein (1891), Macbride (1962), Seithe (1962), Fosberg (1987) lai sử dụng phân loại theo chi Solanum.
Các nghiên cứu da tiến hành phân tích bộ gen lạp thể và thấy rằng cà chua có họ hàng rất gần với khoai tây nên được xem là một phần của chi Solanum (Darwin va ctv, 2003). Phần lớn các nhà khoa học đã chap nhận và tái tích hợp ca chua vào chi Solanum như Caicedo và Schaal (2004), Mueller và ctv (2005) với đặc điểm của chi này là cây hằng niên hoặc lưu niên, tự thụ phan, hoa có màu vàng tươi, bao phan hợp nhất chạy đọc theo các mép, lá có dang chân chim (Knapp và ctv, 2016). Nguồn gốc và phân bố Việc xác định chính xác nguồn gốc cà chua là một van đề gây tranh cãi trong khi hơn nhiều thế kỷ trước, cà chua được trồng trong các vườn trải dài từ Kazakstan đến California. Theo học thuyết về trung tâm phát sinh cây trồng của Vavilov, xác định được bờ biển phía tây của Nam Mỹ, thuộc Peru là nơi phát sinh đầu tiên.
Pham vi hiện tại của ho hàng ca chua hoang dã kéo dai từ mũi phía bắc của Chile ở phía nam, đến Ecuador ở phía bắc và đến nội địa từ Thái Bình Dương 100 đặm - 200 đặm, bao gồm cả quần đảo Galapogos. Cà chua được thuần hóa đầu tiên ở Trung Mỹ qua các bằng chứng về văn hóa, ngôn ngữ và di truyền được khai quật bởi các nhà khảo cô học. Họ đã tìm thấy ghi chép về công thức chế biến cà chua như một món salad. Ngoài ra, người Aztec ở Trung Mỹ gọi cà chua là “xitomatl” với một số bộ lạc hoang đã gọi nó là “tomati”.
Người Tay Ban Nha đã có công rat lớn trong việc phân phối ca chua khắp thuộc địa của họ ở vùng biển Caribbean vào đầu thé ki XVI. Họ cũng đưa nó đến Philippines, từ đó di chuyên đến Đông Nam Á và sau đó là toàn bộ lục địa châu Á. Người Tây Ban Nha cũng mang cà chua đến châu Âu, cụ thể vào năm 1544 ở Ý dưới tên gọi là pomo d’oro. Năm quốc gia san xuất cà chua hang dau thé giới là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý và Án Độ.
Ở Hoa Kỳ, Florida, California và Georgia là những bang sản xuất thương mại hàng dau, với khoảng 200 dặm vuông được canh tác vào năm 1997. Dự kiến con số này sẽ tiếp tục tăng do những lợi ích sức khỏe được cho là có liên quan đến ca chua trong chế độ ăn kiêng. Ở Việt Nam cà chua được trồng chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ (Hà Nội, Hà Bắc, Hải Phòng.) và ở miền Nam (Lâm Đồng, Tiền Giang, Long An, Tây Ninh,. Giá trị cà chua 2.
Giá trị dinh dưỡng Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao. Trong số các loại rau, củ, quả dùng làm rau thì cà chua là thực phẩm chứa vitamin, chất khoáng nhiều chat và có hoạt tính sinh học mạnh mẽ rất có lợi cho sức khỏe. Theo các nhà dinh dưỡng, người trưởng thành hằng ngày chỉ cần sử dụng từ 100 g — 200 g cà chua chín đã cung cấp đủ yêu câu về vitamin và khoáng chât của cơ thê. Theo Tạ Thu Cúc (1985), hàm lượng Vitamin C trong quả tươi chiếm 17 mg - 35,7 mg.
Trọng lượng chất khô dao động 5% - 6%, trong đó đường dé tan chiếm 3%, axit hữu cơ 0,5%, xenlulo 0,84%, chất keo 0,13%, protein 0,95%, lipit thô 0,2%, chất khoáng 0,6% (Nguyễn Viết Khoa, 2012). Thành phần dinh dưỡng trong 100g cà chua ăn được Thanh phân Hàm lượng Thành phân Hàm lượng Nước 94g Vitamin C 40 mg Năng lượng 20 kcal Vitamin BỊ 0,06 mg Protein 0,6 g Vitamin B5 0,089 mg Lipid 0,2 g Vitamin E 0,54 mg Glucid 4g Vitamin K 7,9 ng Celluloza 0,8 g Folat 15 ug Đường tổng số 2,63 g Calci 12mg Sắt 1,40 mg Beta — caroten 393 ug Magie 15 mg Alpha — caroten 112 pg Phospho 26 mg Lycopen 3025 ug Kali 275 mg Lutein + Zeaxanthin 130 pg Phytosterol 7mg Tryptophan 7mg Acid aspartic 104 mg Acid glutamic 269 mg Phenylalanin 16 mg Glycin 16 mg (Nguon: VFCT— VDD, 2007) Cà chua đem lại nhiều lợi ich cho sức khỏe con người như cải thiện thị lực, làm sáng da, hỗ trợ giảm lượng đường trong máu, giúp ngủ ngon, giữ xương chắc khỏe, hỗ trợ trị các bệnh mạn tính, tốt cho mái tóc, giúp giảm cân. Theo Đông y, cà chua có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, giúp thông tiểu tiện và tiêu hóa tốt, chống hoại huyết, kháng khuẩn, dùng ngoài để chữa trứng cá, mụn nhọt, viêm tay và dùng lá dé trị vết đốt của sâu bo. Cà chua đặc biệt chứa nhiều lycopene va carotenoid, nhất là trong vỏ của cà chua chín, hai hợp chất thực vật này có liên quan đến việc cải thiện sức khỏe tim mạch, hỗ trợ ngăn ngừa ung thư và chống lại cháy nắng.
Vào năm 2012, Taveira và ctv đã nghiên cứu về hoạt tính sinh học của những sản phẩm phụ cà chua có chứa phenolics, carotenoids và alkaloids có tác dụng kiểm soát bệnh Alzheimer va đái tháo đường, cũng như tác dụng gây độc tế bào ung thư dạ dày và khả năng kháng khuẩn, chống oxy hóa. Tuy nhiên, các thông số sinh hóa trong các sản phẩm phụ cà chua như hạt và vỏ phụ thuộc vào giống cây trồng và vùng trồng trọt. Ở vỏ, mức độ các hợp chất phenolic, vitamin C và carotenoid bị ảnh hưởng bởi vùng canh tác là nặng nhất nhưng tiềm năng dinh dưỡng từ hạt vẫn rất cao bởi các đa dạng chất béo mà không bi ảnh hưởng đáng kể bởi vùng sản xuất và giống cây trồng (Kabore và ctv, 2022). Giá trị kinh tế Qua cà chua chứa nhiều dưỡng chất quan trọng với các vitamin nhóm A,C và lycopen, có thé ăn tươi hoặc chế biến món ăn, nước uống, làm sốt hoặc mứt.
Ngoài ra, hat ca chua còn có thé chiết tách lay dầu nên luôn là mặt hàng có giá trị kinh tế cao. Tính đến năm 1980, sản lượng cả chua trên toàn thế giới là 50,1 triệu tấn, trong đó Châu Âu chiếm 29,1%, Châu A 23,6%, Bắc Trung Mỹ 18,3%, Châu Phi 10,2%, Nam Mỹ 5,9% và các nước khác là 12,9% (Hoell và ctv, 1983). Lượng cà chua trao đổi trên thị trường thé giới năm 1999 là 36,7 tan trong đó cà chua được dùng ở dạng ăn tươi chỉ 5% - 7%. Từ năm 2020 đến năm 2021, xuất khâu cà chua tăng 5,23% từ 9,82 ty USD lên 10,3 tỷ USD.
Thương mại cà chua chiếm 0,00049% tông thương mai thé giới và là sản phẩm được giao dịch nhiều thứ 350 trên thé giới (Đài quan sát mức độ phức tạp kinh tế OEC, 2021). Năm 2021, đã ghi nhận mức giá ca chua cao kỷ lục lên đến 65.000 đồng/kg và tình trạng khan hiếm kéo đài trong những tháng cuối năm. Vào 9 tháng đầu năm 2022, xuất khẩu cà chua đạt 172 nghìn tan với tổng giá trị lên đến 182 nghìn USD và tăng 36,3% sao với cùng kỳ năm 2021 (Bộ Công Thương, 2023). Tình hình canh tác và sản xuất cà chua ở Việt Nam và trên thế giới 2.
Tình hình canh tác và sản xuất cà chua trên thế giới Theo số liệu của Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (2014), diện tích trồng cây cà chua, sản lượng cũng như năng suất tăng qua các năm. Năm 2008 diện tích trồng cà chua là 4.179 ha với sản lượng 141. Năm 2010 điện tích tăng lên 4.761 ha với sản lượng 152.674 tấn đem lại giá trị 71,1 tỉ đô la.