MỞ ĐẦU Ở Việt Nam, diện tích trồng cà chua đang ngày càng đƣợc mở rộng và là một trong những loại rau ăn quả đƣợc ƣa chuộng hiện nay. Tuy nhiên, tình hình bệnh hại trên cây cà chua vẫn là một vấn đề nghiêm trọng và nan giải cho nền nông nghiệp nƣớc ta. Trong đó, bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra trên cây cà chua là một trong những bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng. Việc dùng nhiều loại thuốc hóa học phòng chống bệnh trong thời gian dài sẽ làm mất cân bằng trong quần thể vi sinh vật đất có ích.
Dƣ lƣợng thuốc trừ sâu hóa học sẽ gây tác hại đối với sức khỏe con ngƣời, vật nuôi và làm ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm. Chế phẩm sinh học có tác dụng tích cực đối với nông nghiệp, hiệu quả trong phòng trừ bệnh và thân thiện với môi trƣờng. Vì vậy, việc nghiên cứu sản xuất chế phẩm kháng R. solanacearum gây bệnh héo xanh trên cây cà chua là điều cần thiết.
là một trong những vi khuẩn đối kháng đƣợc quan tâm nghiên cứu vì có khả năng tạo ra kháng sinh giúp kiểm soát vi khuẩn R. Năm 2014, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu Nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học từ Pseudomonas sp. phòng trừ bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra trên cây cà chua”. Dựa vào nghiên cứu này, chúng tôi kế thừa đƣợc chủng vi khuẩn R.
solanacearum có độc tính và có khả năng nhiễm bệnh nhân tạo; một số chủng Pseudomonas có khả năng kiểm soát tốt vi khuẩn R. solanacearum gây bệnh héo xanh trên cây cà chua trong điều kiện phòng thí nghiệm cũng nhƣ trong nhà màng, trong đó Pseudomonas ĐL7 có khả năng đối kháng vi khuẩn R. solanacearum với kích thƣớc vòng vô khuẩn là 8,4 mm và trong điều kiện nhà màng, Pseudomonas ĐL7 có hiệu quả phòng trừ bệnh héo xanh là 67%; chất mang than bùn phối trộn CMC với tỷ lệ 99:1 phù hợp cho Pseudomonas ĐL7, mật độ đạt hơn 1011 CFU/g sau 60 ngày bảo quản. Tuy nhiên, các thông số cho việc lên men Pseudomonas sp.
ở quy mô 5 lít và đánh giá hiệu lực của chế phẩm sinh học từ Pseudomonas sp. phòng trừ bệnh héo xanh chƣa đƣợc khảo sát. Vì các lý do trên, đề tài Hoàn thiện quy trình lên men Pseudomonas sp. ở quy mô 5 lít và đánh giá hiệu lực của chế phẩm sinh học từ Pseudomonas sp.
phòng ngừa bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra trên cây cà chua” đƣợc thực hiện Trang 2 BM20-QT.QLKH nhằm hoàn thiện quy trình lên men Pseudomonas sp. ở quy mô 5 lít, tạo và đánh giá hiệu lực chế phẩm sinh học tiềm năng từ Pseudomonas sp. giúp tăng khả năng phòng trừ bệnh héo xanh do vi khuẩn R. solanacearum gây ra trên cây cà chua.
Trang 3 BM20-QT.QLKH CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về bệnh héo xanh Bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacaerum gây ra đƣợc Ervin Smith phát hiện đầu tiên trên cây họ cà ở Mỹ vào năm 1896. Bệnh thƣờng biểu hiện triệu chứng ngay sau khi vi khuẩn xâm nhập vào rễ hoặc phần thân sát mặt đất.
Ở cây bị bệnh, ban ngày lá cây héo rũ xuống, về ban đêm có thể phục hồi. Dần dần, hiện tƣợng héo tiếp tục lan đến các lá phía dƣới, cuối cùng toàn bộ tán lá bị héo và cây chết hàng loạt (He và ctv, 1983; Hayward, 1994). Vỏ thân ở phần dƣới sát gốc sù sì, cắt ngang thân thấy bó mạch dẫn hóa màu nâu hoặc đen. Trong điều kiện ẩm độ cao, thân cây dần dần bị thối mềm, gãy gục.
Khi cắt ngang gốc cây bị bệnh, ấn mạnh gần mặt cắt có thể thấy dịch nhờn vi khuẩn tiết ra màu trắng sữa. Ở giai đoạn đầu bị bệnh, một số cành héo rũ ở lá ngọn, sau đó toàn cây héo rũ và chết. Nguồn bệnh có thể sống trong đất từ 5 – 6 năm, trong ký chủ đến 7 tháng, nếu bám trên bề mặt hạt thì chỉ tồn tại 2 ngày (Vũ Triệu Mân và Lê Lƣơng Tề, 1998). Bệnh héo xanh hại cà chua là một trong những bệnh hại nghiêm trọng nhất ở hầu khắp các vùng trồng cà chua trên thế giới, nhất là các vùng có khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt và những vùng khí hậu ấm và ẩm.
Bệnh héo xanh là một trong những yếu tố gây cản trở, hạn chế lớn đối với việc mở rộng sản xuất rau màu của nhiều nƣớc nhƣ Mỹ, Úc, Trung Quốc, Ấn Độ, Pháp, Đài Loan, Thái Lan, Philippin… (Lê Thị Thanh Thủy, 2015). Bệnh héo xanh đã đƣợc công bố ở Indonesia vào năm 1905 và mức độ gây hại có thể làm giảm năng suất 90% đối với đậu phụng, 16% đối với cà chua và 18% đối với khoai tây. Ở Trung Quốc, bệnh héo xanh gây hại nặng trên nhiều loại cây trồng nhƣ cà chua, khoai tây, thuốc lá, gừng, ôliu, cây dâu,. Ở Việt Nam, bệnh héo xanh phổ biến ở các vùng sản xuất cà chua, khoai tây, thuốc lá, đậu phụng với mức độ nhiễm bệnh biến động tùy thuộc chủng loại cây trồng, vùng sinh thái và có tính mùa vụ, tùy thuộc điều kiện thời tiết.
Bệnh xuất hiện nhiều trong mùa nóng ẩm (tháng 4 đến tháng 10) và có xu thế giảm nhẹ ở những tháng mùa khô (tháng 11 đến tháng 3). Riêng ở khu vực Đức Trọng (Lâm Đồng) có hơn 15% diện tích khoai tây bị nhiễm bệnh héo xanh (Lê Thị Thanh Thủy, 2015). Trang 4 BM20-QT. Sơ lƣợc về vi khuẩn R.
Đặc điểm phân loại, sinh lý, sinh hóa của vi khuẩn R. solanacearum Vi khuẩn R. solanacearum là loài đa thực, có phổ kí chủ rộng, gây bệnh héo xanh ở hơn 278 loài thực vật thuộc trên 44 họ khác nhau và phân bố khắp nơi trên thế giới. solanacearum là một loài thuộc chi Ralstonia, họ Ralstoniaceae, bộ Burkholderiales, lớp Beta Proteobacterium (Yabuuchi và ctv, 1996).
Dựa vào cây chủ, R. solanacearum đƣợc chia thành 5 race (Bhattacharyya và Jha, 2012): - Race 1: phân bố trên nhiều vùng địa lý, có số lƣợng cây chủ nhiều nhất: các cây họ cà (ớt, cà tím, khoai tây, thuốc lá và cà chua), các loại cây kiểng (lily, hồng môn, thƣợc dƣợc, mỏ két, cát tƣờng, cúc vạn thọ, cọ, thiên điểu, cỏ roi ngựa, cúc.), các loại thân gỗ (khuynh diệp, chùm ngây.) và cây ăn quả (na, sầu đâu, mận.) và các loại cây khác nhƣ các loại đậu, mè, hƣớng dƣơng, chuối sợi, đay, dâu tằm, dây tây, rau muống, nhục đậu khấu, hoắc hƣơng,. - Race 2: chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới của Nam Mỹ và ở Philippines, gây hại trên các cây họ chuối. - Race 3: phân bố trên cả 5 châu lục, gây hại ớt, cà tím, khoai tây, cà chua, cây cà dƣợc hoa tím, lu lu đực.
- Race 4: phân bố ở châu Á, gây hại trên gừng. - Race 5: có ở Trung Quốc, gây hại trên dâu tằm. solanacearum gây hại trên cây cà chua thuộc race 1 hoặc race 3. Dựa trên các đặc điểm sinh hoá, khả năng sử dụng và ôxy hóa một số disaccharide (cellobiose, lactose và maltose) và rƣợu hexose (dulcitol, manitol và sorbitol), He và ctv (1983) đã chia R.
solanacearum thành 5 biovar khác nhau. Biovar 1 và 2 thuộc loại dinh dƣỡng kém linh hoạt so với biovar 3 và 4, giữa các biovar khác nhau bởi các hình ảnh điện di đồ, các protein màng. Biovar 1 và 2 còn khác biovar 3, 4 và 5 trên cơ sở phân tích các mẫu ADN và RFLP. Trang 5 BM20-QT.
Các race quan trọng, cây ký chủ và phân bố địa lý của R. solanacearum Race Cây ký chủ Phân bố địa lý Biovar 1 Nhiều loại Châu Á, Úc, Mỹ 1, 3 và 4 2 Chuối và các loài Muss sp. Caribbean, Brasil, 1 Philippines 3 Khoai tây, cà chua, một số cây họ cà, Khắp thế giới trừ Mỹ và 2 Geranium và một số loài khác Canada 4 Gừng Châu Á 3 và 4 5 Dâu tằm Trung Quốc 5 (Nguồn: Denny và Hayward, 2001) Biovar 1 và 2 chiếm ƣu thế ở châu Mỹ, biovar 3 ở châu Á. Ở Philippines, có mặt cả 4 biovar, còn biovar 2 có phân bố địa lý rộng nhất, trong khi đó biovar 3 có đặc điểm dinh dƣỡng linh hoạt hơn cả.
Có một bằng chứng cho rằng R. solanacearum là một loài cổ, chỉ có quan hệ xa với các loài thuộc chi Ralstonia. Theo phân loại, R. solanacearum nhƣ là một nhóm thuộc Ralstonia đã đƣợc biết trong nhiều năm dựa vào phân tích số liệu của những đặc điểm hình thái, lai ADN - ADN hoặc ARN-ARN (DeVos và ctv, 1985).
solanacearum là vi khuẩn Gram âm, hình que, hai đầu tròn, có lông roi ở đầu, kích thƣớc trung bình từ 0,5 – 0,7 x 1,5 – 2,5 µm. Là vi khuẩn hiếu khí, tuy nhiên trong một số trƣờng hợp, khi nguồn oxi bị giới hạn, R. solanacearum tạo ra poly-β- hydroxybutyrat để dự trữ năng lƣợng cho tế tào. Vi khuẩn này phát triển ở nhiệt độ tƣơng đối cao, từ 24 – 38oC, không thể sống ở nhiệt độ cao hơn 40°C hoặc dƣới 4°C.
Trên môi trƣờng thạch khoai tây – pepton, khuẩn lạc có dạng tròn, ƣớt, màu trắng kem. Trên môi trƣờng nhân tạo có chứa TTC (triphenyl tetrazolium chloride) khuẩn lạc của vi khuẩn có rìa ngoài màu trắng, ở giữa có màu hồng (Vũ Triệu Mân và Lê Lƣơng Tề, 1998). solanacearum có 2 dạng khuẩn lạc trên môi trƣờng thạch: nhầy và không nhầy. Chất nhầy đƣợc tạo ra bởi sự tích lũy exopolysaccharide.
Chất nhầy này làm cho bề mặt Trang 6 BM20-QT.QLKH khuẩn lạc không đều và tạo thành vòng xoắn ở tâm. Trong điều kiện thích hợp, khuẩn lạc R. solanacearum chuyển từ dạng nhầy sang dạng không nhầy (giảm tính gây bệnh), hiện tƣợng này đƣợc gọi là Phenotypic Conversion” (PC). Hiện tƣợng PC đƣợc thấy khi R.
solanacearum đƣợc nuôi trên môi trƣờng lỏng có glucose và một nguồn hữu cơ có chứa nitơ. solanacearum có khả năng di động, không hóa lỏng gelatin, thủy phân tinh bột, không có khả năng tạo indol và không sử dụng arginin; ngƣợc lại vi khuẩn này có khả năng tạo ra H2S, khử nitrat, có khả năng thủy phân Tween 80, phản ứng dƣơng tính Le- van, phân giải đối với sữa limut, có phản ứng oxidase và catalase, urea, pectin, oxi hóa acetate, malonate và gluconate. Các hình thức xâm nhập của R. solanacearum vào cây chủ Vi khuẩn R.
solanacearum đƣợc lƣu tồn từ đất và nƣớc, các dòng chảy là nguồn phát tán chủ yếu vi khuẩn vào môi trƣờng. Nhờ khả năng tạo một quần thể trong quản bào và mao mạch thân gỗ, R. solanacearum tấn công trƣớc tiên là các mô mềm (nhu mô) (Lê Thị Thanh Thủy, 2015). Những hình thức xâm nhập của R.
solanacearum vào cây chủ có quan hệ mật thiết với tuyến trùng ở trong đất (Meloidogyne spp.), khi có sự tƣơng tác giữa tuyến trùng với R.