MỞ ĐẦU Ung thƣ đại trực tràng là một trong những loại ung thƣ phổ biến nhất trên thế giới, đứng thứ ba ở nam giới và thứ hai ở nữ giới với trên 1,9 triệu trƣờng hợp UTĐTT mắc mới năm 2020 [85] và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, UTĐTT là một trong 5 loại ung thƣ có tỉ lệ mắc và tử vong cao nhất, xếp thứ 4 ở nam giới (sau ung thƣ gan, phổi, dạ dày) và xếp thứ 3 ở nữ giới (sau ung thƣ vú và phổi). Nếu đƣợc phát hiện sớm, điều trị kịp thời và triệt để thì tỉ lệ sống trên 5 năm đạt 80-90%, tuy nhiên, 60-70% ngƣời bệnh đƣợc phát hiện ở giai đoạn muộn của UTĐTT trong lần chẩn đoán đầu tiên [3, 60]. Do đó, các phƣơng pháp giúp phát hiện sớm UTĐTT đã không ngừng đƣợc phát triển nhằm giúp giảm tỉ lệ tử vong do UTĐTT gây ra.
Nội soi và sinh thiết đại trực tràng đƣợc coi là tiêu chuẩn vàng trong sàng lọc, chẩn đoán UTĐTT. Tuy nhiên đây là một xét nghiệm với quy trình thực hiện phức tạp, nhiều bƣớc chuẩn bị tạo ra tâm lý ngần ngại của những ngƣời muốn tham gia các chƣơng trình sàng lọc. Do đó để nâng cao hiệu quả sàng lọc phát hiện sớm UTĐTT, nhiều nghiên cứu đã đƣợc thực hiện theo hƣớng sử dụng xét nghiệm máu để phát hiện sớm UTĐTT dựa vào các chỉ thị sinh học (biomarker) đặc trƣng của UTĐTT. Các chỉ thị sinh học này có nguồn gốc từ khối u và lƣu hành trong máu ngoại vi.
Hiện tƣợng methyl hóa bất thƣờng DNA [93] là những biến đổi xảy ra sớm trong quá trình phát sinh UTĐTT [17, 72]. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh DNA methyl hóa đã đƣợc tìm thấy trong máu ngoại vi với tình trạng methyl hóa khác biệt giữa ngƣời khỏe mạnh và ngƣời bệnh UTĐTT [24, 55]. Triển vọng của việc phát hiện gen SEPT9 bị methyl hóa trong sàng lọc phát hiện sớm UTĐTT đã đƣợc các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và chứng minh [18, 55, 64, 96]. Các nghiên cứu này đều cho kết quả khả quan với độ nhạy và độ đặc hiệu dao động trong khoảng 68-95,6% và 82-98,9%, tƣơng ứng [18, 28, 40, 68, 87, 90, 96].
Đồng thời xét nghiệm phát hiện methyl hóa DNA của gen SEPT9 cũng đã đƣợc FDA phê duyệt nhƣ một xét nghiệm máu đầu tiên trong sàng lọc UTĐTT vào tháng 4 năm 2016 với bộ kit thƣơng mại Epi proColon® 2. Các thử nghiệm lâm sàng bƣớc đầu cho thấy mặc dù Epi proColon® 2.0 có độ nhạy lên tới 80,6% và độ đặc hiệu là 1 96,9% nhƣng độ nhạy phát hiện UTĐTT giai đoạn sớm I, II chỉ là 41,1% và 72%. Tuy nhiên, cho đến nay, chƣa có nghiên cứu nào trong nƣớc đƣợc thực hiện nhằm làm rõ tiềm năng của dấu ấn methyl hóa gen SEPT9 trong UTĐTT ở ngƣời Việt Nam. Mặt khác, chi phí cho một xét nghiệm sàng lọc UTĐTT sử dụng bộ kit Epi proColon® 2.0 rất cao (8-10 triệu VNĐ), do đó rất khó để áp dụng vào các chƣơng trình sàng lọc UTĐTT tại Việt Nam.
Có lẽ vì thế xét nghiệm phát hiện methyl hóa gen SEPT9 trong sàng lọc UTĐTT ở nƣớc ta còn hạn chế mặc dù xét nghiệm này đã khá phổ biến ở Mỹ và Châu Âu. Để nâng cao độ nhạy và độ đặc hiệu của phản ứng PCR khuếch đại chọn lọc DNA bị methyl hóa gen SEPT9 thì phƣơng pháp sử dụng là một yếu tố vô cùng quan trọng. Phƣơng pháp phát hiện DNA bị methyl hóa của gen SEPT9 mà bộ kit Epi proColon® 2.0 hiện đang áp dụng là phƣơng pháp HeavyMethyl [16]. Phƣơng pháp này đã có nhiều nghiên cứu sử dụng để tối ƣu và đánh giá hiệu quả phát hiện DNA bị methyl hóa của gen SEPT9 [18, 28, 87, 96, 102].
Trong khi đó, chƣa có nghiên cứu nào sử dụng phƣơng pháp Headloop PCR để phát hiện methyl hóa gen SEPT9. Vì thế, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu xây dựng quy trình phát hiện methyl hóa gen SEPT9 trong máu ngoại vi với độ nhạy cao giúp cải thiện khả năng phát hiện sớm UTĐTT và giảm giá thành xét nghiệm. Thành công của nghiên cứu hứa hẹn đƣa ra đƣợc quy trình/bộ kit xét nghiệm máu phát hiện sớm UTĐTT với độ nhạy cao, chi phí thấp, giúp Việt Nam chủ động hơn trong sản xuất kit sàng lọc UTĐTT. 2 Chƣơng 1 - TỔNG QUAN 1.
Tổng quan về ung thƣ đại trực tràng 1. Dịch tễ học Ung thư đại trực tràng trên thế giới Theo số liệu thống kê mới nhất của Cơ quan nghiên cứu ung thƣ quốc tế (The International Agency for Research on Cancer - IARC) năm 2020 có 1,9 triệu ca mắc mới (chiếm 10% trên tổng số ca mắc ung thƣ trên toàn thế giới), là loại ung thƣ phổ biến thứ 3 chỉ đứng sau ung thƣ phổi và ung thƣ vú.000 ca tử vong (chiếm 9,4% trên tổng số ca mắc ung thƣ trên toàn thế giới), đứng thứ 2 về ngƣỡng báo động nguy cơ tử vong cao chỉ sau ung thƣ phổi (1,8 triệu ca tử vong, chiếm 18%) [85]. Tỉ lệ mắc cao nhất là ở Australia, New Zealand, châu Âu và Bắc Mỹ, trong khi các nƣớc châu Phi và Nam Á có tỉ lệ mắc thấp, cũng có thể do mật độ phân bố dân cƣ tại các vùng chƣa đều nên các nƣớc đang và đã phát triển thƣờng cao hơn rất nhiều [9, 85]. Khi xét về giới tính, tỉ lệ mắc ở nam giới cao hơn nữ giới ở hầu hết các nơi trên thế giới.
Một số lý do có thể đánh giá khách quan nam giới luôn có tỉ lệ mắc cao hơn nữ giới là: do thói quen ăn uống không lành mạnh, ăn quá nhiều chất đạm, mỡ sẽ làm tăng yếu tố sinh ung thƣ, làm tăng sản các tế bào biểu mô bất thƣờng và phát triển thành ung thƣ. Ngoài ra, thuốc lá là một tác nhân nguy cơ cao gây ung thƣ đại tràng cho cả hai giới, nhất là khi kết hợp với sử dụng rƣợu bia. UTĐTT có thể đƣợc coi là dấu hiệu của sự phát triển kinh tế xã hội. Đánh giá xu hƣớng mắc và tử vong do UTĐTT Arnold và cộng sự (2017) [5] xác định 3 xu hƣớng liên quan đến mức độ phát triển: 1) tỉ lệ mắc và tử vong tăng trong thập kỷ gần đây (bao gồm các nƣớc Baltic, Nga, Trung Quốc và Brazil); 2) tỉ lệ mắc tăng nhƣng tỉ lệ tử vong giảm (Canada, Vƣơng quốc Anh, Đan Mạch và Singapore); và 3) tỉ lệ mắc và tỉ lệ tử vong giảm (Hoa Kỳ, Nhật Bản và Pháp).
Một số nƣớc có tỉ lệ mắc thấp đang có xu hƣớng mắc UTĐTT tăng lên. Ngày nay, tỉ lệ tử vong do ung thƣ đại trực tràng giảm ở nhiều nƣớc trên thế giới do quá trình sàng lọc sớm phát hiện dấu ấn ung thƣ trên tế bào, giảm các yếu tố 3 nguy cơ gây bệnh và cải thiện những phƣơng pháp điều trị trƣớc đây. Tuy nhiên, ở các nƣớc đang phát triển tỉ lệ tử vong vẫn tăng, bao gồm các nƣớc ở Nam Mỹ, Đông Âu và các nƣớc đang phát triển do nguồn kinh tế còn hạn hẹp, kéo theo các phƣơng pháp và công nghệ điều trị còn hạn chế [88]. Hơn nữa, công nghệ sinh học ở đây còn chƣa đƣợc quan tâm đề đầu tƣ phát triển nên quá trình sàng lọc phát hiện sớm các loại dấu ấn gây ung thƣ trên ngƣời còn hạn chế (thƣờng là theo nhu cầu của ngƣời bệnh) và do chi phí để trả cho một xét nghiệm còn quá cao khiến cho căn bệnh UTĐTT càng gia tăng.
Ung thư đại trực tràng tại Việt Nam Theo số liệu thống kê của Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization - WHO) năm 2020, tại Việt Nam có 16.426 ca mắc mới ung thƣ đại trực tràng, trong đó có 8.539 nữ đứng thứ 5 trên tổng số ca mắc mới các bệnh ung thƣ thƣờng gặp. Ở nam giới, ung thƣ đại trực tràng đứng thứ 4 về tỉ lệ số ca mắc mới trên tổng các bệnh ung thƣ thƣờng gặp, đứng thứ 2 về các bệnh liên quan đến hệ tiêu hóa chỉ sau ung thƣ dạ dày (với 11.059 ca mắc mới). Trong khi đó, nữ giới với 7.539 ca mắc mới đứng thứ 3 sau ung thƣ vú (với 15.229 ca) và ung thƣ phổi (với 7.577 ca), và đứng thứ nhất các bệnh liên quan đến tiêu hóa. UTĐTT đang có chiều hƣớng gia tăng, một phần do Việt Nam là một nƣớc đang phát triển, nguồn kinh phí để đầu tƣ cho các trang thiết bị, các phƣơng pháp điều trị còn hạn hẹp.
Hai là, do nhịp sống của con ngƣời hiện đại đang chạy theo công việc, kéo theo đó là những thói quen sinh hoạt không lành mạnh nhƣ ăn đồ ăn nhanh nhiều dầu mỡ, đồ uống có CO2, hút thuốc hay thức khuya làm ảnh hƣởng quá trình đào thải và tái tạo chu trình tế bào. Ngoài ra, những ngƣời có tiền sử bị ung thƣ buồng trứng, polyps trực tràng có kích thƣớc từ 1 cm trở lên hoặc có tế bào trông không bình thƣờng dƣới kính hiển vi cũng có nguy cơ cao mắc ung thu đại trực tràng. U nhung mao, viêm loét đại trực tràng mãn tính có nguy cơ ung thƣ từ 20-25%. Ngoài ra, ngƣời ta đã nhận thấy rằng những ngƣời thừa cân, béo phì cũng rất dễ mắc UTĐTT [2].
Tỉ lệ tử vong do ung thƣ đại trực tràng đứng thứ 5 với 8.203 ca, trong đó đứng thứ 4 ở nam giới sau ung thƣ gan, ung thƣ phổi và ung thƣ dạ dày và đứng thứ 5 ở nữ giới sau ung thƣ vú, ung thƣ phổi, ung thƣ gan và ung thƣ dạ dày. Cho thấy 4 tình trạng báo động về căn bệnh này, nên có những biện pháp khắc phục từ bên trong và những xét nghiệm tầm soát từ sớm để kiểm soát, điều trị dứt điểm trong thời gian ngắn khi bệnh mới ở gia đoạn đầu. Khi đó, bệnh dễ dàng đƣợc loại bỏ mà không gây thƣơng tổn cho các tế bào vùng khác, hơn nữa quá trình tái tạo tế bào cũng nhanh hơn, sự hồi phục của cơ thể cũng đảm bảo hơn khi chúng ta phát hiện bệnh ở những giai đoạn cuối vì ung thƣ là căn bệnh để lại nhiều hệ quả đi kèm nhƣ sức khỏe giảm sút, các tế bào chết đi gây ảnh hƣởng chu trình của các tế bào khác hay sự di căn của chúng. Mô bệnh học Ung thƣ đại trực tràng (UTĐTT) là một bệnh lý gây ra bởi sự hình thành các tế bào ung thƣ trong các mô của đại tràng và trực tràng.
Ung thƣ đại trực tràng bao gồm ung thƣ đại tràng và ung thƣ trực tràng. Đại tràng là phần ruột lớn hình chữ N gồm đoạn lên, đoạn ngang và đoạn xuống.