Chương 1. Khái quát chung về hoạt động đại lý thương mại. Pháp luật điều chỉnh hoạt động đại lý thương mại, thực trạng áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. 9 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẠI LÝ THƢƠNG MẠI 1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động đại lý thƣơng mại 1.1 Khái niệm và đặc điểm đại lý thƣơng mại 1.1 Khái niệm chung về đại lý thƣơng mại Trong hoạt động sản xuất hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ, các doanh nghiệp luôn mong muốn hàng hóa, dịch vụ của mình được tiêu thụ nhanh chóng.
Chính vì vậy, rất cần sự phát triển hoạt động phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Mỗi doanh nghiệp có thể tự khả năng của mình sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ để cung ứng cho khách hàng hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ của đối tác (của thương nhân khác) với mình để đưa hàng hóa, dịch vụ đến người tiêu dùng. Khi một thương nhân sử dụng hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác nhằm tổ chức, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm đã làm xuất hiện những quan hệ pháp lý được gọi là quan hệ “cung ứng dịch vụ thương mại”; trong quan hệ cung ứng dịch vụ thương mại này, có quan hệ “đại lý”. Khái niệm đại lý được hình thành dựa trên hành động của một người, nhân danh chính mình thực hiện công việc thay cho người khác.
Hành động đó được pháp luật thừa nhận. Giữa hai người này tồn tại một mối quan hệ pháp lý, một bên là người đại lý, người được ủy thác giao công việc (có thể là công ty, chủ doanh nghiệp hoặc một cá nhân có đăng ký kinh doanh), bên còn lại được gọi là bên giao đại lý. Hành động nhân danh chính mình thực hiện hoạt động kinh doanh, giao dịch mua bán với bên thứ ba của bên đại lý sẽ ràng buộc trách nhiệm của bên thứ ba với bên giao đại lý. Xét về mặt thuật ngữ, đại lý là từ Hán – Việt, có nguồn gốc từ chữ Hán.
Trong tiếng Hán, từ “đại” có nghĩa là thay thế, từ “lý” có nghĩa là quản lý, thu xếp, 10 xử lý. Đại lý là hoạt động trong đó một người nhận ủy thác của người khác, thay mặt họ để tiến hành một hoạt động nhất định2. Theo từ điển bách khoa Việt Nam, đại lý là “quan hệ pháp lý của một bên ủy thác cho bên kia thay mình thực hiện việc quản lý một số công việc thường dùng trong hoạt động mua bán, giao dịch hoặc xử lý các công việc theo sự ủy thác của đơn vị sản xuất, thương nghiệp”3. “Dưới phương diện kinh tế, đại lý là một phương thức kinh doanh, một cách thức tổ chức mạng lưới kinh doanh, mạng lưới phân phối (tiêu thụ) hàng hóa, dịch vụ của các cơ sở kinh doanh.
Trong phương thức kinh doanh đại lý, người bán và người mua không trực tiếp thực hiện quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ với nhau mà phải thông qua người trung gian (bên đại lý)”4. Đại lý thương mại là một hoạt động trung gian thương mại. Hoạt động này chỉ thực sự được phát triển trong nền kinh tế thị trường. Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, các công ty đa quốc gia gia tăng mạnh mẽ sự đầu tư ra nước ngoài của mình thông qua hình thức đại lý nhằm giảm bớt chi phí xây dựng văn phòng, chi nhánh, thuê mướn nhân viên, khảo sát thị trường…và quan trọng hơn là có thể tiếp cận nhanh chóng đến các đối tượng khách hàng tại địa phương họ muốn nhắm đến.
Trước đây, hoạt động đại lý ở Việt Nam được biết đến thông qua hình thức đại lý tàu biển theo nghị định số 50/NĐ ngày 13/3/1957 quy định tổ chức và nhiệm vụ của Công ty đại lý tàu biển Việt Nam; tiếp đến là quyết định 939/QĐ-BYT quy định hình thức đại lý bán thuốc ở xã; tuy nhiên, những hình thức đại lý này không nhằm mục đích thương mại, tìm kiếm lợi nhuận mà chỉ nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước. Sau đó, khi nghị định 25/CP ngày 25/4/1996 và Luật Thương mại 2 Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia. 3 Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển bách khoa Việt Nam 1, Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội, tr. 4 Nguyễn Thị Vân Anh (2006), “Một số ý kiến về khái niệm đại lý thương mại”, Tạp chí luật học, (5).
11 1997 (LTM 1997) ra đời đã bắt đầu nhìn nhận hoạt động đại lý thương mại theo xu hướng của nền kinh tế thị trường. Khái niệm “đại lý thương mại” theo LTM 19975 không bao quát hết phạm vi và đối tượng của hoạt động đại lý thương mại (chủ yếu là đại lý mua bán hàng hóa), chưa đề cập đến đại lý cung ứng dịch vụ. Mặt khác, hoạt động mua bán hàng hóa của đại lý theo quy định tại LTM 1997, chỉ bó hẹp ở phạm vi mua bán máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng….6, đó là những hàng hóa hữu hình7; còn những hàng hóa là các loại hình dịch vụ thì LTM 1997 chưa điều chỉnh. Riêng đối với các quy định về đại lý thương mại trong từng lĩnh vực đặc thù khác như đại lý tàu biển, đại lý bảo hiểm, đại lý dịch vụ bưu chính, đại lý dịch vụ lữ hành… được quy định riêng trong từng văn bản luật chuyên ngành.
Tác giả nhận thấy, mỗi văn bản luật chuyên ngành đều quy định về đại lý thương mại theo một cách hiểu khác nhau, cách quy định về đại lý của các văn bản này chủ yếu dựa trên chủ thể tham gia quan hệ đại lý. Điều này đôi lúc dẫn đến sự mâu thuẫn và chồng chéo trong quy định về đại lý của những văn bản này với LTM, gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng và trong giải quyết các tranh chấp liên quan. Định nghĩa về đại lý thương mại được quy định tại Điều 166 LTM 20058…Có thể thấy, phạm vi hoạt động của đại lý thương mại theo LTM 2005 không còn bị bó hẹp ở những loại hàng hóa hữu hình được liệt kê trong LTM 1997, mà mở rộng ra cho các loại hàng hóa là động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai9. Khái niệm đại lý thương mại trong LTM 2005 đã điều chỉnh hoạt động đại lý trong cả các loại hình dịch vụ.
Việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của đại lý thương mại đã thể hiện sự tiến bộ so với luật 5 Điều 111 Luật Thương mại 1997. 6 Khoản 3 Điều 5 Luật Thương mại 1997 quy định. 7 Khoản 4 Điều 3 Nghị định 25/CP ngày 25/4/1996 của Chính phủ về Ban hành Quy chế về Đại lý mua bán hàng hóa. 8 Điều 166 Luật Thương mại 2005 quy định: “Hoạt động thương mại, theo đó, bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao” 9 Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại 2005.
12 năm 1997, theo đó các thương nhân khi tham gia quan hệ đại lý không còn đơn thuần bị bó buộc trong khuôn khổ mua bán hàng hóa hữu hình, mà có thể mua bán, cung ứng những loại hàng hóa, dịch vụ vô hình. So với Việt Nam, hệ thống pháp luật thương mại các nước trên thế giới đã phát triển từ rất lâu. Đặc biệt, hoạt động đại lý thương mại đã được hình thành từ những năm 1800 tại các nước có nền kinh tế thị trường rất phát triển hiện nay, sau nhiều năm thực hiện và hoàn thiện pháp luật, có thể nói quy định về đại lý thương mại ở những nước như Pháp, Đức, Nhật… đã đạt đến sự hoàn chỉnh. Việt Nam, với tư cách là một nước đi sau, tiếp thu những tiến bộ trong các quy định về đại lý thương mại của các nước.
Do đó, cách quy định về đại lý thương mại của các nước này đã được LTM Việt Nam vận dụng vào các văn bản pháp luật thương mại, các văn bản pháp luật trong các lĩnh vực đặc thu và trong thực tiễn áp dụng. Để hiểu rõ hơn vấn đề này, tác giả xin nêu một số khái niệm về đại lý thương mại theo quy định pháp luật một số nước trên thế giới: Theo Bộ luật thương mại Nhật Bản: “một người đại lý thương mại là một người không phải là người làm công mà thường hoạt động trên danh nghĩa của một thương gia nhất định như một người đại lý hay trung gian các giao dịch mua bán nằm trong phạm vi loại hình kinh doanh của thương gia đó”10 Theo Bộ luật thương mại Cộng hòa Pháp: “đại lý thương mại là bên được ủy quyền và chịu trách nhiệm tiến hành thường xuyên, với tính chất hoạt động nghề nghiệp độc lập và không bị ràng buộc bởi một hợp đồng dịch vụ, các hoạt động đàm phán và nếu có thể, giao kết hợp đồng mua, bán, thuê hoặc cung ứng dịch vụ với danh nghĩa và vì lợi ích người sản xuất, người hoạt động công nghiệp, thương nhân hoặc các đại lý thương mại khác…”11 Bộ luật thương mại Thái Lan quy định: “người đại lý hoa hồng là người mà trong quá trình kinh doanh của mình tiến hành mua hay bán tài sản hay tiến hành 10 Điều 46 Bộ luật thương mại Nhật Bản. 11 Điều L134-1 Bộ luật thương mại của Cộng hòa Pháp. 13 bất cứ giao dịch nào khác với danh nghĩa của chính cá nhân người đó, vì quyền lợi của người chủ…” Như vậy, các quốc gia nói trên đều xem người đại lý như là một bên nhân danh chính họ thực hiện một giao dịch hay một việc bất kỳ thay cho bên giao đại lý.
Cách quy định về đại lý thương mại theo pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay có xu hướng giống với pháp luật thương mại các nước. Phạm vi của hoạt động đại lý cũng được mở rộng hơn so với LTM 1997. Điều này thể hiện sự thay đổi đáng kể của LTM 2005; bởi lẽ trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc kinh doanh không chỉ xoay quanh công việc mua bán hàng hóa mà còn có cả cung ứng các dịch vụ như: du lịch, bảo hiểm, hàng hải, bưu chính viễn thông… Do vậy, nếu không sửa đổi lại LTM 1997 thì sẽ không còn phù hợp với thực tiễn kinh doanh hiện nay.