Chương 1: Những vấn đề lý luận về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư Chương 2: Thực trạng pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư ở Việt Nam và 5 thực tiễn thực hiện tại thành phố Hải Phòng. Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư tại thành phố Hải Phòng CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI ĐẦU TƢ VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƢ 1. Khái quát về ƣu đãi đầu tƣ và hỗ trợ đầu tƣ 1.
Khái niệm ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư Đầu tư là thuật ngữ được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực và có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo cách hiểu mang tính phổ thông, đầu tư là: “Bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì sao cho có hiệu quả kinh tế, xã hội” 1. Cách hiểu này rộng và mang tính chung chung, đã nêu lên được bản chất của đầu tư đó là việc bỏ ra những giá trị nhất định như sức lực, tài sản, trí lực cho một việc nào đó nhằm đạt được kết quả cao hơn trong tương lai, đó có thể là lợi ích kinh tế, cũng có thể là lợi ích công cộng. Tuy nhiên, chưa có giới hạn chủ thể đầu tư là ai và vì thế dễ gây nhầm lẫn với các cá nhân bỏ sức lao động ra làm việc gì đó và nhận thù lao.
Dưới góc độ pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác; hoạt động đầu tư có thể có tính chất thương mại hoặc phi thương mại. Ở Việt Nam, Luật Đầu tư 2020, khái niệm này tiếp tục xác định phạm vi điều chỉnh của đầu tư là kinh doanh một cách ngắn gọn: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh” 2 và tách các hình thức đầu tư thành quy phạm riêng tại Điều 21. Như vậy, Luật Đầu tư hiện hành gắn đầu tư với hoạt động kinh doanh, có phạm vi điều chỉnh là hoạt động kinh doanh của các nhà 1 Từ điển Tiếng Việt 2012, Trung tâm Từ điển học, Nxb Đà Nẵng, tr.401 2 Khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 6 đầu tư có mục đích lợi nhuận, còn hoạt động đầu tư khác thì không điều chỉnh. Nhìn chung, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “đầu tư”.
Trong phạm vi nghiên cứu này, có thể hiểu đầu tư như sau: Là việc các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư thông qua các hình thức được Luật Đầu tư quy định để thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm sinh lợi. Các hình thức nhà đầu tư thực hiện đầu tư theo luật quy định gồm thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Việt Nam trong sự phát triển của mình không thể không hoà nhập vào xu hướng chung của thời đại. Từ khi thực hiện công cuộc “đổi mới” đến nay, hệ thống pháp luật về đầu tư và môi trường kinh doanh tại Việt Nam không ngừng được hoàn thiện, theo hướng bình đẳng, không phân biệt, tạo lập “cùng một sân chơi chung” cho các thành phần kinh tế đã tạo nên một khung pháp lý quan trọng điều chỉnh các hoạt động đầu tư phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, tạo môi trường thuận lợi, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.
Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đưa ra định nghĩa: Khuyến khích đầu tư hay ưu đãi đầu tư là các biện pháp được Chính phủ sử dụng để thu hút đầu tư, hướng các dự án đầu tư vào các ngành, các khu vực cần thiết hoặc ảnh hưởng đến tính chất của đầu tư. Như vậy, có thể hiểu ưu đãi đầu tư như là công cụ mà Nhà nước sử dụng, tác động đến các nhà đầu tư để thu hút vốn đầu tư nhằm đạt được mục tiêu. Ưu đãi đầu tư có thể quy về hai nhóm: chính sách thuế khoá (tax policy) và chính sách khác không phải là thuế (non-tax policy). Pháp Luật Đầu tư của Việt Nam không đưa định nghĩa cụ thể về biện 7 pháp khuyến khích đầu tư nên thuật ngữ “khuyến khích đầu tư” chỉ được tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý.
Theo pháp Luật Đầu tư hiện hành của Việt Nam, hình thức của khuyến khích đầu tư là ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư. Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội (1994) thì Ưu đãi nghĩa là “chú trọng, dành cho những quyền lợi điều kiện tốt hơn những đối tượng khác”3. Luật Đầu tư năm 2020 không giải nghĩa cụm từ “ưu đãi đầu tư”. Tuy nhiên, qua định nghĩa “ưu đãi” của Từ điển Tiếng Việt và nội dung các quy định về ưu đãi đầu tư trong Luật Đầu tư năm 2020, có thể hiểu: Ưu đãi đầu tư là việc Nhà nước tạo ra những quyền lợi, lợi ích đặc biệt dành cho nhà đầu tư khi đầu tư vào lĩnh vực, địa bàn hoặc đầu tư vào dự án đáp ứng điều kiện do Nhà nước đặt ra.
Những ưu đãi đó có thể là ưu đãi về thuế, miễn, giảm tiền thuê đất hay những ưu đãi khác mà Nhà nước cam kết ưu đãi dành cho nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam. Thực tế, trước khi bỏ vốn để đầu tư một dự án thì nhà đầu tư phải tìm hiểu: Nhà nước ưu đãi cái gì (lĩnh vực ưu đãi), ưu đãi ở đâu (địa bàn ưu đãi), ưu đãi như thế nào (mức ưu đãi) để có lựa chọn và quyết định đầu tư nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Có thể thấy, ưu đãi đầu tư nằm trong hệ thống chính sách, biện pháp khuyến khích đầu tư của Nhà nước, qua đó Nhà nước cam kết với nhà đầu tư những quyền lợi nhất định nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào những ngành, khu vực nhất định để phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng của Nhà nước. Theo Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội, (1994) thì Hỗ trợ nghĩa là “giúp đỡ nhau, giúp thêm vào”4.
Luật Đầu tư năm 2020 không có điều, khoản nào giải nghĩa cụm từ “hỗ trợ đầu tư”. Tuy nhiên, qua định nghĩa “hỗ trợ” của Từ điển Tiếng Việt và 3 Từ điển Tiếng Việt,của Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội (1994) 4 Từ điển Tiếng Việt,của Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội (1994) 8 nội dung các quy định về hỗ trợ đầu tư trong Luật Đầu tư năm 2020, có thể hiểu: Hỗ trợ đầu tư là việc Nhà nước giúp nhà đầu tư thực hiện một số nội dung công việc của nhà đầu tư trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Theo quy định tại Điều 18, Điều 19 và Điều 20, Luật Đầu tư năm 2020 thì Nhà nước hỗ trợ đầu tư thông qua các hình thức, như: Hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào dự án; hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ tín dụng; hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ di dời cơ sở sản xuất ra khỏi nội thành, nội thị; hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; hỗ trợ phát triển thị trường, cung cấp thông tin; Hỗ trợ nghiên cứu và phát triển; hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; phát triển nhà ở và công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư là hai khái niệm khác nhau về bản chất, ưu đãi đầu tư là việc Nhà nước dành cho nhà đầu tư những ưu tiên đặc biệt hơn về quyền lợi, lợi ích khi tham gia đầu tư vào những địa bàn, lĩnh vực, dự án đáp ứng điều kiện do Nhà nước đặt ra, còn hỗ trợ đầu tư là việc Nhà nước giúp nhà đầu tư thực hiện một số công việc cụ thể nào đó mà đáng lẽ nội dung công việc này nhà đầu tư phải thực hiện trong quá trình đầu tư.
Ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư luôn gắn với điều kiện nhà nước đặt ra, nhưng điều kiện của ưu đãi đầu tư phải do Luật quy định, còn điều kiện của hỗ trợ đầu tư có thể do Luật hoặc văn bản dưới Luật quy định. So với ưu đãi đầu tư thì hình thức và điều kiện hỗ trợ đầu tư đa dạng và linh hoạt hơn. Các trường hợp được ưu đãi đầu tư có thể đồng thời được hỗ trợ đầu tư. Cũng cần phân biệt hỗ trợ đầu tư theo Luật Đầu tư với các biện pháp trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh 9 nghiệp nhỏ và vừa thì các chính sách trợ giúp của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: Trợ giúp tài chính, mặt bằng sản xuất, đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật, xúc tiến mở rộng thị trường, tham gia kế hoạch mua sắm, cung ứng dịch vụ công, về thông tin và tư vấn, trợ giúp phát triển nguồn nhân lực, vườn ươm doanh nghiệp, đây chính là chính sách do Chính phủ ban hành để cụ thể hóa Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp. Có thể thấy, các chính sách trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có sự tương đồng rất lớn với các biện pháp hỗ trợ đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư.