Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiền thực hiện tại Công ty cô phần Dược liệu và Thực phâm Việt Nam Chương 3: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa CHUONG 1. NHUNG LY LUAN CO BAN VE PHAP LUAT DIEU CHINH HOP DONG MUA BAN HANG HOA 1. Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 1. Khái niệm liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa 1.
Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng là một loại giao ước giữa các bên nhăm đảm bảo việc thực hiện quyền và nghĩa vụ. Dù ở bất cứ đâu, thời điểm nào thì hợp đồng cũng là sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa các bên. Pháp luật Việt Nam ghi nhận khái niệm về hợp đồng tại Điều 385 BLDS 2015 như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc cham dit quyén, nghia vu dan sự. Mua bán hàng hóa và hợp đồng có mối liên hệ chặt chẽ.
Hợp đồng là phương tiện quan trọng, chủ yếu đề thực hiện việc mua bán hàng hóa. LTM 2005 không đưa ra khái niệm về HĐMBHH. Tuy nhiên, HĐMBHH mang đây đù bản chất của hợp đồng dân sự khi hợp đồng dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đối hoặc cham dứt quyên, nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa nên có thê dựa vào quy định của BLDS 2015 kết hợp với các khái niệm về hàng hóa, mua bán hàng hóa của LTM 2005 đê xây dựng định nghĩa. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 3 LTM 2005 về giải thích từ ngữ: “Hang héa bao gém tất cả các loại động sản, kề cả động sản hình thành trong tương lai; Những vật gắn liền với đất đai ”.
Và theo quy định tại Điều 105 BLDS 2015 thì tài sản được hiểu là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyên tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thê là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Từ hai điều luật nêu trên, có thể khăng định, hàng hóa có thuộc phạm vi khái niệm về tài sản của BLDS.
Vậy nên, khái niệm HDMBHH hoàn toàn có thê dựa trên quy định tại Điều 430 BLDS 2015 về hợp đồng mua bán tài sản: *#ợp đồng mua bản tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyên sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bản” kết hợp với quy định tại khoản 1 Điều 3 LTM 2005 về định nghĩa hoạt động thương mại: “Ho động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh loi, bao gom mua ban hang hoá, cung ứng dịch vụ, đâu tư, xúc tiễn thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác." và quy định tại khoản 8 Điều này về định nghĩa hoạt động mua ban hang héda: “Mua ban hang hoa là hoạt động thương mại, theo đó bên bản có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bản, nhận hàng và quyên sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận ` Như vậy, có thê rút ra khái niệm về HĐMBHH như sau: “Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bản có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiên, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền cho bên bán theo thời hạn, số lượng và phương thức thanh toán mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đông. Việc giao kết và thực hiện hợp đông trên nhằm mục đích sinh lợi” 1. Khái niệm về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa Trong các quy định của pháp luật, thực hiện hợp đồng không có khái niệm cụ thê nhưng có thê dựa trên quy định có nhắc đến việc thực hiện hợp đồng để xây dựng định nghĩa. Theo khoản 12 Điều 3 LTM 2005 thì vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không day đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này.
Theo đó, thực hiện hợp đồng là việc các bên thông qua hành vi của mình thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản được cam kết trong hợp đồng. Hay vắn tắt hơn, thực hiện hợp đồng là quá trình các bên thực hiện nghĩa vụ của mình đã cam kết trong hợp đồng. Từ khái niệm nêu trên, thực hiện HĐMBHH có thê được định nghĩa là: “7c hiện hợp đông mua bản hàng hóa là quá trình mà bên bản hàng hóa và bên mua hàng hóa thực hiện đúng và đây đủ các nghĩa vụ đã cam kết trong bản hợp đông. Trong quá trình thực hiện, nếu có một bên không thực hiện hay thực hiện không đây du thi phải chịu trách nhiệm dựa trên các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng ".
Mục đích của các bên chỉ có thê đạt được khi thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của mình trong quan hệ mua bán hàng hóa. Việc thực hiện HDMBHH cần dựa trên các quy định của pháp luật, tôn trọng thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng nhằm giúp quá trình này điễn ra tốt đẹp. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa có đầy đủ các đặc điểm chung của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự. Cụ thê: Thứ nhất, hợp đông mua bản hàng hóa là hợp đông trng thuận.
Theo đó, HĐMBHH sẽ phát sinh hiệu lực ngay tại thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản trọng tâm của hợp đồng. Hợp đồng đã có hiệu lực nên việc thực hiện nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng là chuyện tất yếu. Thứ hai, hợp đồng mua bản hàng hóa có tính đến bù. Tính đèn bù thể hiện khi các bên cùng trao cho nhau một lợi ích vật chất tưng ứng.
Trong HĐMBHH, bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao đúng, đầy đủ hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một khoản tiền tương đương với giá trị hàng hóa dựa theo thỏa thuận. Thứ ba, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ. Nói cách khác, các bên trong hợp đồng bị ràng buộc bởi nghĩa vụ. Trong HĐMBHH, tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và có sự liên quan mật thiết đến nhau: Nghĩa vụ của bên bán là giao hàng đầy đủ, chuyên quyên sở hữu hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua là nhận hàng hóa và thanh toán cho bên bán.
Bên cạnh các đặc điểm chung, hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điêm riêng biệt do xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa là sinh lợi. Cụ thê: Vẻ chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa: Khác với các hợp đồng dân sự khác, chủ thê của HĐMBHH phải có ít nhất một bên là thương nhân. Theo khoản 1 Điều 6 LTM 2005 quy dinh: “Thwong nhân bao gồm tô chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc láp, thường xuyên và có đăng kỷ kinh doanh”. Đề nhận biết chủ thê có phải thương nhân hay không, cần dựa vào các đặc điêm đã được nhắc đến trong khái niệm.
Bên cạnh đó, khi nói chủ thể của HĐMBBHH có ít nhất một bên là thương nhân, có nghĩa là bên còn lại có thê không phải là thương nhân. Nói cách khác, các tô chức, cá nhân không phải là thương nhân và không nhằm mục đích sinh lợi trong quan hệ mua bán hàng hóa cũng có thê trở thành chủ thê của HĐMBHH nếu họ đủ năng lực hành vi đê tham gia giao kết và thực hiện HĐMBHH. Tuy nhiên, nếu hoạt động của thương nhân trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM 2005 thì hoạt động của tô chức, cá nhân không phải là thương nhân và không nhằm mục đích sinh lợi trong quan hệ mua bán hàng hóa sẽ được lựa chọn luật áp dụng (Khoản 3 Điều I LTM 2005). Chăng hạn, hoạt động của cá nhân, tô chức nói trên sẽ phải tuân theo các quy định của LTM 2005 nếu họ lựa chọn áp dụng LTM 2005.
Trong trường hợp, cá nhân, tô chức đó lựa chọn áp dụng BLDS 2015 thì hoạt động của họ sẽ phải tuân theo các quy định của BLDS 2015. Nếu họ lựa chọn lựa chọn áp dụng LTM khi giao kết và thực hiện HDMBHH thì họ có thê là chủ thể của HDMBHH trong hoạt động thương mại. V hình thức của hợp đông mua bán hàng hóa: Hình thức của HĐMBHH là cách thức thê hiện ý chí của các bên trong HĐMBHH. HĐMBHH được thê hiện bằng lời nói, văn bản hoặc được xác lập băng hành vi cụ thê (Điều 24 LTM 2005).
Thông thường. các bên trong HĐMBHH thường lựa chọn hình thức văn bản. Bởi vì, so với các hình thức khác thì văn bản có tính đảm bảo cao hơn, có khả năng lưu trữ lâu dài và là công cụ hữu hiệu nếu có tranh chấp phát sinh. Đặc biệt, HĐMBHH thường có giá trị lớn, phức tạp nên xây dựng hợp đồng băng văn bản là hết sức cần thiết.
Vẻ đối tượng của hợp đồng mua bản hàng hóa: Hàng hóa là đối tượng của HĐMBHH. Theo định nghĩa của Karl Marx, hàng hóa là sản phẩm của lao động, thông qua trao đôi, mua bán có thể thỏa mãn một số nhu cầu nhất định của con người. Hàng hóa có thê đáp ứng nhu cầu cho nhân hoặc nhu cầu sản xuất. Nhưng hệ thông pháp luật cần có một khái niệm cụ thê rõ ràng hơn đề xác định được thế nào là hàng hóa.
Theo quy định của LTM 2005, hàng hóa bao gồm tắt cả các loại động sản, kê cả động sản hình thành trong tương lai; Những vật gắn liên với đất đai. Hàng hóa trong HĐMBHH chủ yếu là tài sản hữu hình. Tuy nhiên không phải tất cả các hàng hóa đều được kinh doanh. Nhà nước đã đưa ra danh mục hàng hoá cắm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hóa kinh doanh có điều kiện được ban hành tại Nghị định 59/2006/NĐ-CP và được bồ sung bởi Nghị định 43/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009.
Vẻ mục đích hợp đông mua bán hàng hóa: Nếu chủ thê trong hợp đồng là thương nhân thì mục đích mà chủ thê này hướng đến khi thực hiện HĐMBHH là lợi nhuận.