CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa 1. Khái niệm về hoạt động thương mại Theo Khoản 1, Điều 3, Luật Thương mại (LTM) đã định nghĩa: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc thực hiện chính sách kinh tế - xã hội”1. Như vậy hành vi thương mại đã cấu thành nên hoạt động thương mại và hoạt động thương mại cũng gắn liền với chủ thể là thương nhân.
Có thể nói rằng hoạt động thương mại là một khái niệm giản đơn, song phạm vi các hoạt động là rất rộng, nó bao gồm bốn loại: Hoạt động mua bán hàng hóa ở thị trường trong nước (của thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài); cung ứng dịch vụ cho khách hàng; các hoạt động xúc tiến thương mại như: quảng cáo, trưng bày giới thiệu hàng hóa, hội chợ, triển làm hàng hóa; các hoạt động trung gian thương mại. Khái niệm về hợp đồng Theo Điều 388 – Bộ luật Dân sự “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”2. Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự là tự do, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng. Như vậy hợp đồng được hiểu là sự thể hiện ý chí của các bên bằng việc thoả thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ của các bên, xác định khi nào và trong điều kiện nào thì các quyền và nghĩa vụ này được xác lập, được thay đổi và chấm dứt.
Các chủ thể tham gia hợp đồng có thể là cá nhân hoặc pháp nhân hoặc các loại chủ thể khác. Khách thể của hợp đồng chính là đối tượng của hợp đồng, có thể là tài sản, hàng hoá hoặc dịch vụ. Nguyên tắc quan trọng và được pháp luật bảo vệ là nguyên tắc tự do thoả thuận, bình đẳng và thiện chí trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng, không phân biệt 1 Xem điều 3 – Bộ luật Dân sự 2005 2 Xem điều 388 – Bộ luật Dân sự 2005 6 Luan van mục đích của hợp đồng là kinh doanh thu lợi nhuận hay nhằm phục vụ cho tiêu dùng. Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa 1.
Mua bán hàng hóa “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; còn bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”1 (Điều 3, Khoản 8, LTM 2005) 1. Hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa (HĐMBHH) có bản chất chung của hợp đồng và mang đầy đủ các đặc điểm mà hợp đồng có, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa. LTM không đưa ra định nghĩa về HĐMBHH trong thương mại nhưng chúng ta có thể dựa vào khái niệm của hợp đồng mua bán tài sản trong Bộ luật Dân Sự (BLDS) để xác định bản chất của HĐMBHH. Theo Điều 428, BLDS có quy định “hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán” 2.
Hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản. Từ đó cho thấy, HĐMBHH trong kinh doanh – thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa Căn cứ vào yếu tố chủ thể, đối tượng, nơi xác lập và thực hiện hợp đồng thì HĐMBHH bao gồm: - Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước. - Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế áp dụng cho các phương thức: • Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa • Tạm xuất tái nhập hàng hóa.
• Tạm nhập, tái xuất hàng hóa. • Chuyển khẩu hàng hóa. 1 Xem Điều 3, Khoản 8, Luật Thương mại 2005 2 Xem Điều 428, Bộ luật Dân sự 2005 7 Luan van 1. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa 1.
Hợp đồng mua bán hàng hóa có đầy đủ những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lí là hợp đồng mua bán hàng hoá (HĐMBHH). HĐMBHH có bản chất chung của hợp đồng, là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. Dù LTM 2005 không đưa ra định nghĩa về HĐMBHH song có thể các định bản chất pháp lí của HĐMBHH trong thương mại trên cơ sở Điều 428, BLDS về hợp đồng mua bán tài sản (HĐMBTS). Do đó, HĐMBHH trong thương mại là một dạng cụ thể của HĐMBTS, dù vẫn mang những nét đặc thù riêng về chủ thể, đối tượng, hình thức…, thoả thuận về việc MBHH ở hiện tại hoặc MBHH sẽ có ở một thời điểm nào đó trong tương lai đều có thể là một HĐMB.
Quan hệ HĐMBHH sẽ hình thành bất cứ khi nào nếu một chủ thể mua hàng hoá bằng tiền hoặc phương thức thanh toán khác và nhận quyền sở hữu hàng hoá. Hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm riêng xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa - Đặc điểm về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa HĐMBHH được thiết lập giữa các chủ thể trong đó ít nhất một trong các bên chủ thể của HĐMBHH là thương nhân. Theo LTM 2005 quy định thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.Thương nhân có thể mang quốc tích của Việt Nam hoặc mang quốc tịch nước ngoài. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của HĐMBHH.
Theo khoản 3 Điều 1 LTM 2005 quy định hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM khi chủ thể này lựa chọn áp dụng LTM. - Đặc điểm về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa Về hình thức của HĐMBHH có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết. Trong một số trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản, ví dụ như HĐMBHH quốc tế- phải được thể hiện dưới hình thức văn bản 8 Luan van hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như điện báo, TELEX, FAX hay thông điệp dữ liệu. - Đặc điểm về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa Về đối tượng của HĐMBHH có đối tượng là hàng hóa.
Theo nghĩa thông thường có thể hiểu hàng hóa là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người. Càng ngày cùng với sự phát triển của xã hội, hàng hóa càng trở nên phong phú. Khái niệm hàng hóa được quy định trong luật pháp các nước hiện nay dù có những khác biệt nhất định song đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông. Theo LTM 2005, hàng hóa là đối tượng của quan hệ mua bán có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại.
Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề về hợp đồng mua bán hàng hóa 1. Cơ sở ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, trong đó các yếu tố “ đầu ra “ và “ đầu vào “ của sản xuất đều thông qua thị trường. Kinh tế hàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội trong đó sản phẩm sản xuất ra để bán, để trao đổi trên thị trường. Mục đích của sản xuất trong kinh tế hàng hóa không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất ra sản phẩm mà nhằm để bán, tức để thỏa mãn nhu cầu của người mua, đáp ứng nhu cầu của xã hội.Có thể nói kinh tế thị trường và kinh tế hàng hóa có cùng nguồn gốc và bản chất tuy nhiên chúng khác nhau về trình độ phát triển.
Một trong những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường là tự do trao đổi các sản phẩm hàng hóa giữa người mua và người bán. Người bán bao giờ cũng muốn bán giá cao còn người mua bao giờ cũng muốn mua với giá thấp do đó cần có sự thống nhất ý chí , có sự thỏa thuận giữa người bán và người mua thể hiện qua hợp đồng. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế của hệ thống các quan hệ hợp đồng, nếu thiếu hợp đồng thì nền kinh tế không thể vận hành được. 9 Luan van Năm 1986, chúng ta bắt đầu đi vào đổi mới, các quan hệ kinh tế bắt đầu thay đổi, mọi sự trao đổi thỏa thuận giữa người mua và nười bán, giữa các chủ thể của nền kinh tế đều được thể hiện qua hợp đồng.
Đây là tiền đề cơ bản để Pháp lệnh hợp đồng 1989 ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong việc điều chỉnh các quan hệ trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng kinh tế. Sau đó, ngày 28/10/1995 đánh dấu sự ra đời cảu Bộ luật Dân sự; Luật Thương mại thông qua ngày 10/5/1997 cũng có những quy định về hợp đồng trong một số hành vi thương mại, nhưng Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 vẫn là căn cứ áp dụng chủ yếu cho các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh thương mại. Sau 16 năm áp dụng và thực hiện, song hành với nó là sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường sang nền kinh tế hội nhập. Nhận thấy rõ sự bất cập và lạc hậu của Pháp lệnh hợp đồng 1989, Luật Thương mại 1997, Bộ luật Dân sự 1995 trước đó, việc cho ra đời những luật mới để phù hợp với xu thế phát triển, định hướng của nhà nước trong tương lai là rất cần thiết.