Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; Chương 2. Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; Chương 3. Quan điểm, giải pháp và lộ trình đẩy mạnh thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 1. Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở 1. Thực hiện dân chủ ở cơ sở Thuật ngữ “dân chủ” ra đời vào khoảng thế kỷ thứ V trước công nguyên ở Hy Lạp cổ đại. Để diễn đạt dân chủ người Hy Lạp đã dùng thuật ngữ “demokratos”, trong đó “demos” là nhân dân và “kratos” là quyền lực.
Cách diễn đạt này đã cung cấp một cách tiếp cận sơ khai về dân chủ, cụ thể dân chủ được hiểu là quyền lực thuộc về nhân dân.Ăngghen - những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa xã hội hiện đại, dân chủ là một phương tiện tất yếu để con người đạt tới tự do, giải phóng toàn diện những năng lực vốn có của mỗi cá nhân, tức quyền con người phải được bảo đảm và thực hiện đầy đủ. Trong tác phẩm Thường thức chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm “dân chủ tức là dân là chủ”, Người đã chỉ rõ “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ. Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy.
Thế là dân chủ” [32]. Quan niệm “dân là chủ và dân làm chủ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vị thế xã hội, địa vị pháp lý tối thượng của nhân dân là người chủ xã hội, đồng thời cũng thể hiện sự gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời trong mối quan hệ giữa người chủ xã hội và hành động làm chủ xã hội của nhân dân. Tác giả Hoàng Chí Bảo từng đưa ra quan niệm về dân chủ, theo đó: “Dân chủ tức là tôn trọng giá trị con người. Dân chủ tức là lắng nghe nhiều tiếng nói khác nhau.
Dân chủ tức là không áp đặt người khác, coi mình là chân lý tuyệt đối” [1]. Quan niệm này tuy ngắn gọn nhưng lại chứa đựng nội hàm sâu sắc, vừa bao trọn được bản chất của dân chủ “tôn trọng giá trị con người”, vừa thể hiện được những phương thức rất cơ bản để phát huy dân chủ đó là “biết lắng nghe tiếng nói khác nhau”, “không áp đặt người khác, coi mình là chân lý tuyệt đối”. 10 Từ các quan niệm trên, dân chủ có thể được nhìn nhận ở hai góc độ. Trước hết, dân chủ được xác định là quyền của nhân dân, cụ thể là quyền làm chủ nhà nước, quyền lựa chọn, xây dựng nên cơ quan dân cử, quyền tham gia, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Bên cạnh đó, dân chủ cũng được hiểu là một thể chế chính trị, một hình thức nhà nước, có sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân trong xây dựng, điều hành hoạt động của nhà nước và nhà nước đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân. Như vậy, có thể khẳng định dân chủ là hình thức tổ chức của nhà nước khi các chủ thể chính trị thừa nhận tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân hay nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cơ sở có thể được hiểu là đơn vị cấp dưới cùng của một hệ thống tổ chức trong quan hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên và là nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động lao động, sản xuất, công tác,….Bên cạnh đó, cơ sở cũng được hiểu là đơn vị xã hội nhỏ nhất được tổ chức bởi nhân dân, bao gồm địa bàn cư trú (thôn, làng, xóm, khóm, ấp, bản, phum, sóc,…) và nơi làm việc (cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,…). Tại Khoản 1, Điều 2, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (DCCS) năm 2022 quy định: “Cơ sở là xã, phường, thị trấn (cấp xã) và cộng đồng dân cư trên địa bàn cấp xã; cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức có sử dụng lao động” [25].
Từ những khái niệm trên, có thể nhận định, cơ sở là nơi diễn ra trực tiếp các mối quan hệ đa diện giữa các tầng lớp nhân dân với chính quyền, giữa các thiết chế của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giữa các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên phát sinh giữa Nhà nước với công dân và giữa công dân với nhau. Căn cứ quy định tại Khoản 2, Điều 2, Luật Thực hiện DCCS năm 2022: “Thực hiện DCCS là phương thức phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, để công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được thông tin, thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến của mình thông qua việc thảo luận, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở theo quy định của Hiến pháp và pháp luật” [25]. Trên thực tế, thực hiện DCCS là điều kiện quan trọng tạo nên sự đồng thuận giữa cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân với các chủ thể quản lý trong quan 11 hệ quản lý, điều hành nhằm tăng cường sự hiểu biết về những giá trị mà các bên cùng hướng tới, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển các mặt tích cực và hạn chế các hành vi tiêu cực trong đời sống xã hội. Pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở Theo tác giả Nguyễn Minh Đoan: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội để bảo vệ lợi ích, thực hiện mục đích của giai cấp thống trị, đồng thời duy trì sự tồn tại, phát triển và vì lợi ích của cả xã hội” [12, tr.
Có thể thấy, pháp luật là công cụ chủ yếu, phổ biến và hữu hiệu nhất để nhà nước thực hiện quản lý xã hội. Trên thực tế, nhà nước là cơ quan thay mặt nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tuy nhiên, nhà nước không thể nào nắm bắt được toàn bộ tâm tư, nguyện vọng của toàn thể người dân trên mọi miền đất nước. Do đó, muốn tập được trí tuệ, sức sáng tạo của toàn dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội, đòi hỏi phải mở rộng và phát huy DCCS. Với vai trò quan trọng đó, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện DCCS không thể đứng ngoài sự điều chỉnh của pháp luật.
Như đã phân tích ở trên, thực hiện DCCS phải được tiến hành theo các quy định của pháp luật. Pháp luật về thực hiện DCCS bao gồm các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, công nhận quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, cũng như việc tổ chức, thực hiện DCCS nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân ở các loại hình cơ sở khác nhau. Nói cách khác, pháp luật về thực hiện dân DCCS là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện DCCS, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ, phát huy cao độ sức sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Hiện nay, pháp luật về thực hiện DCCS có phạm vi điều chỉnh rất rộng bao gồm pháp luật về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị và pháp luật về thực hiện dân chủ ở tổ chức có sử dụng lao động.
Thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở Hiện nay, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, trong đó pháp luật là cơ sở nền tảng để điều chỉnh các hành vi cá nhân, các quan hệ xã hội, đảm cho xã hội ổn định và phát triển bền vững. Do đó, có thể khẳng định nếu không có pháp luật thì không thể xây dựng nhà nước pháp quyền, tuy nhiên, nếu chỉ có pháp luật thì chưa đủ. Vấn đề có tính then chốt là phải phát huy được giá trị của pháp luật, tức pháp luật phải được triển khai trên thực tế, đi vào đời sống xã hội thông qua quá trình thực hiện pháp luật.
Theo tác giả Nguyễn Minh Đoan: “Thực hiện pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [12, tr. Trong nhiều năm qua, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về thực hiện DCCS đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nỗ lực thực hiện và đạt được những tiến bộ quan trọng. Quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới, nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn chỉnh hơn. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về thực hiện DCCS sẽ không thể mang lại giá trị trên thực tiễn nếu không trải qua quá trình thực hiện pháp luật.
Như vậy, đúc rút từ các nhận định về thực hiện pháp luật và pháp luật về thực hiện DCCS, có thể đưa ra khái niệm: “Thực hiện pháp luật về thực hiện DCCS là hành vi thực tế, hợp pháp có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật về thực hiện DCCS, làm cho chúng đi vào cuộc sống nhằm bảo đảm thực hiện quyền làm chủ, phát huy cao độ sức sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội”.