Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về thoả thuận hạn chế cạnh tranh Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về thoả thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Chương 4: Yêu cầu, định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thoả thuận hạn chế cạnh tranh. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu lý luận về thoả thuận hạn chế cạnh tranh và pháp luật về thoả thuận hạn chế cạnh tranh 1.
Tình hình nghiên cứu lý luận về thoả thuận hạn chế cạnh tranh Hầu hết các nghiên cứu đều đi từ "thoả thuận" với tính cách là một khái niệm rộng. Có những thoả thuận nhằm hạn chế cạnh tranh, có những thoả thuận khuyến khích cạnh tranh nhưng cũng có những thoả thuận trung tính (không khuyến khích cạnh tranh nhưng cũng không hạn chế cạnh tranh) [78, tr. Đây là quan niệm thể hiện trong Giáo trình Luật Cạnh tranh của Trường Đại học Luật Hà Nội. Giáo trình Luật Cạnh tranh của Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định: hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh được nhìn nhận là sự thống nhất cùng hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh [76, tr.
Tác giả Nguyễn Thị Nhung trong Luận án Tiến sỹ: “Điều chỉnh pháp luật đối với các thoả thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” đã viết: “Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất ý chí giữa các doanh nghiệp độc lập với nhau (gọi là các thành viên) để thực hiện các hành vi nhằm mục đích thủ tiêu hoặc hạn chế cạnh tranh giữa chúng và qua đó ngăn cản sự tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh khác cũng của các doanh nghiệp tiềm năng” [60, tr. Tác giả Nguyễn Thị Trâm trong Luận án Tiến sỹ: "Thực hiện pháp luật trong kiểm soát thoả thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay" đã định nghĩa: "Thoả thuận hạn chế cạnh tranh (các-ten) là sự thống nhất ý chí được thể hiện công khai hoặc ngầm dưới bất kỳ hình thức nào giữa các đối thủ cạnh tranh về những vấn đề như giá cả, sản lượng, phân chia thị trường, khách hàng, đấu thầu. nhằm hạn chế hoặc loại bỏ cạnh tranh giữa các thành viên tham gia thỏa thuận với mục đích tối đa hóa lợi nhuận của họ, có tác động làm giảm, làm sai lệch, làm cản trở hoặc thủ tiêu cạnh tranh" [75, tr. 9 Nghiên cứu về đặc điểm của thoả thuận hạn chế cạnh tranh, tính không bền vững của thoả thuận hạn chế cạnh tranh là một đặc điểm kinh tế - pháp lý khá điển hình được N.
Gregory Mankiw nêu trong cuốn Principles of Economics (Nguyên lý kinh tế) [115, p. Herbert Hovenkamp trong tác phẩm Federal Antitrust Policy: The Law of Competition and Its Practice (Chính sách chống độc quyền liên bang: Luật Cạnh tranh và thực tiễn) [105, p.149] đã chỉ rõ: nếu coi sự khác biệt về chi phí sản xuất và chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp tham gia thoả thuận là các nhân tố bên trong tác động đến tính ổn định của các thoả thuận, thì cấu trúc thị trường và sự minh bạch của thông tin thị trường lại là yếu tố bên ngoài tác động mạnh mẽ đến các thoả thuận hạn chế cạnh tranh. “Các nhà kinh tế học đã thống nhất rằng các thoả thuận hạn chế cạnh tranh sẽ dễ dàng xảy ra ở các thị trường mà mức độ tập trung của thị trường là cao, những thị trường chỉ bao gồm 2 đến 7 hoặc 8 doanh nghiệp. Một thị trường mà số lượng doanh nghiệp nhiều hơn 15 hoặc 20, thoả thuận hạn chế cạnh tranh là cực kỳ khó khăn” [104, p.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), trong tác phẩm Guidelines for fighting bid rigging in public procurement (Hướng dẫn chống gian lận trong đấu thầu mua sắm công) thì cấu trúc thị trường với số lượng doanh nghiệp ít là một trong những yêu cầu quan trọng làm nảy sinh các thoả thuận hạn chế cạnh tranh. “Thông đồng trong đấu thầu có nhiều khả năng xảy ra khi chỉ có một số ít các công ty cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ. Càng ít người tham gia, càng dễ dàng cho các doanh nghiệp này đạt đến thoả thuận thông đồng trong đấu thầu” [118, p. Dixit và Barry J.
Nalebuff trong tác phẩm Thinking Strategically: The Competitive Edge in Business, Politics, and Everyday Life (Tư duy chiến lược: cạnh tranh trong kinh doanh, chính trị và cuộc sống hàng ngày) [95] đã có những phát hiện: xét ở khía cạnh kinh tế, bản chất của các thoả thuận hạn chế cạnh tranh mang lại cho các doanh nghiệp tham gia lợi nhuận cao từ việc cắt giảm sản lượng để tăng giá. Giáo trình Luật Cạnh tranh, Trường Đại học Luật Hà Nội và Luận án Tiến sỹ “Điều chỉnh pháp luật đối với các thoả thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Nhung có nêu các đặc điểm của TTHCCT. 10 Nghiên cứu về phân loại thoả thuận hạn chế cạnh tranh đáng chú ý có tác phẩm "Hành vi hạn chế cạnh tranh - Một số vụ việc điển hình của châu Âu", thoả thuận hạn chế cạnh tranh được định nghĩa và phân loại như sau: "Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là các thoả thuận giữa các doanh nghiệp cạnh tranh nhằm ấn định giá hoặc sản lượng hoặc phân chia thị phần, khách hàng - thường được biết đến dưới tên gọi cartel - hoặc các thoả thuận theo đó các bên tham gia đấu thầu ấn định giá bỏ thầu hoặc thoả thuận trước doanh nghiệp sẽ thắng thầu - thường được biết đến dưới dạng đấu thầu thông đồng. Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh cũng bao gồm cả các thoả thuận dọc có tác động tiêu cực đến cạnh tranh như thoả thuận ấn định giá bán lại một sản phẩm nhằm ngăn cản nhà phân phối cung cấp ưu đãi cho khách hàng" [28, tr.
Ở đây, sự phân loại là chưa rõ, mới có sự xuất hiện loại hành vi "thoả thuận dọc" mà chưa đề cập đến loại thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang song hành trong khái niệm. Giáo trình Luật Cạnh tranh của Trường Đại học Luật Hà Nội đã căn cứ vào vị trí của chủ thể tham gia TTHCCT trong chu trình kinh doanh mà phân chia TTHCCT thành hai loại: thoả thuận theo chiều ngang và thoả thuận theo chiều dọc [28, tr. Tác giả Massimo Motta trong tác phẩm Competition Policy - Theory and Practice (Chính sách cạnh tranh - Lý thuyết và thực tiễn), trên cơ sở phân loại thoả thuận hạn chế cạnh tranh thành thoả thuận theo chiều ngang và thoả thuận theo chiều dọc [116, p. Điều này cũng được ghi nhận trong Điều 81 Hiệp định Rome về việc thành lập Cộng đồng chung châu Âu.
Theo Quy định số 2790/1999 của EC hướng dẫn các trường hợp miễn trừ trong quy định về TTHCCT bị cấm tại Điều 81 Hiệp định Rome thì các TTHCCT theo chiều dọc sẽ được miễn trừ khi thị phần của nhà cung cấp dưới 30 % trên thị trường liên quan (trừ một số thoả thuận theo chiều dọc thuộc loại hard - core cartel thì không áp dụng miễn trừ này) [116, p. Trong Tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp của một số nước và một số bình luận về Luật Cạnh tranh của Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Cương đã nêu một cách gián tiếp sự phân loại thoả thuận hạn chế cạnh tranh như sau: "Các doanh nghiệp tham gia thoả thuận có thể là đối thủ cạnh tranh với nhau trên thị trường (thoả thuận ngang) hoặc các doanh nghiệp thuộc các công đoạn khác nhau của quá trình kinh doanh từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng (thoả thuận dọc). Mỗi quốc gia khác nhau thường có quan niệm không hoàn toàn giống nhau về thoả 11 thuận hạn chế cạnh tranh. Ngoài ra, trong Giáo trình Luật Thương mại của Trường Đại học Luật Hà Nội sự phân loại các thoả thuận hạn chế cạnh tranh được diễn đạt kèm với khái niệm thoả thuận hạn chế cạnh tranh [77, tr.
Tình hình nghiên cứu pháp luật về thoả thuận hạn chế cạnh tranh Trên phạm vi toàn cầu, đáng kể nhất là các tài liệu nghiên cứu của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) đề cập đến chính sách và pháp luật cạnh tranh nói chung cũng như pháp luật về TTHCCT nói riêng. Cụ thể, tài liệu “Glossary of Industrial Organisation Economics and Competition Law” (Từ điển thuật ngữ kinh tế công nghiệp và Luật Cạnh tranh) của OECD có chứa đựng nội dung giải nghĩa các thuật ngữ về cạnh tranh và TTHCCT… Tài liệu này giúp tra cứu các thuật ngữ cần thiết và hỗ trợ Nghiên cứu sinh có được một cái nhìn chung, tổng thể về các nội dung liên quan đến chính sách cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh và pháp luật về thoả thuận hạn chế cạnh tranh. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cũng đã đưa ra những gợi ý về khuôn khổ cho việc xây dựng, thực thi luật và chính sách cạnh tranh trong tài liệu “A Framework for the Design and Implementation of Competition Law and Policy” (Khung mẫu cho việc thiết kế và thực thi luật và chính sách cạnh tranh) [133]. Trong tài liệu này có chương nghiên cứu cụ thể liên quan đến thoả thuận hạn chế cạnh tranh và pháp luật về thoả thuận hạn chế cạnh tranh.
Năm 2010, Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) đã đưa ra Luật mẫu về cạnh tranh (sửa đổi) [85] và tổng quan kinh nghiệm áp dụng và thực hiện, trong đó có bình luận về từng điều khoản cụ thể và giới thiệu quy định liên quan trong pháp luật về thoả thuận hạn chế cạnh tranh. Tác giả Nguyễn Thị Trâm nhìn nhận pháp luật về TTHCCT là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước thừa nhận, ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc kiểm soát thoả thuận hạn chế cạnh tranh để bảo vệ cạnh tranh và bảo đảm trật tự thị trường trong nền kinh tế thị trường, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và của người tiêu dùng [75].