Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Quan niệm về thi hành án dân sự 1. Khái niệm thi hành án dân sự Khi các cá nhân, tổ chức phát sinh tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết, phán quyết của Tòa án chỉ là kết quả về mặt pháp lý. Để bảo vệ quyền lợi của mình trên thực tế, bên thắng kiện phải yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án được gọi là thi hành án dân sự (THADS). THADS là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng dân sự, giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự và người có quyền và lợi ích liên quan theo bản án, quyết định của Tòa án được tổ chức thi hành trên thực tế. Đó là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và theo các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm đưa bản án, quyết định của Toà án ra thi hành trên thực tế, bảo đảm tính hiệu lực của các bản án, quyết định dân sự của Tòa án bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, người có quyền và lợi ích liên quan. Trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án, hoạt động THADS còn góp phần phát hiện sai sót của các quá trình tố tụng dân sự của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật hoặc làm ảnh hưởng đến quyền lợi cho công dân, đương sự và không phù hợp với hiện trạng thực tế như lĩnh vực về đất đai, nhà ở, công trình kiến thúc xây dựng…, từ đó kiến nghị đến Tòa án có thẩm quyền kịp thời xét xử lại nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên đương sự, người có quyền và lợi ích liên quan; chỉ đạo công tác xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật và kiến nghị trong việc xây dựng pháp luật.
Tuy nhiên, việc tổ 7 Luan van chức THADS không những chỉ đối với các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà còn phải tổ chức thi hành đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực nhưng phải thi hành ngay trong những trường hợp pháp luật quy định cụ thể tại Điều 2, Khoản 2 của Luật Thi hành án dân sự “Những bản án, quyết định sau đây của Toà án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị: a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc;b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời” [ 37]. Do đó, THADS là hoạt động đặc thù và rất phức tạp, có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau về tính chất của hoạt động THADS. Để xác định được là hoạt động tư pháp hay hoạt động hành chính, phân tích các quan điểm sau đây: Quan điểm thứ nhất cho rằng: hoạt động THADS là một hoạt động tư pháp vì nó là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn xét xử không thể thiếu trong quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, luôn gắn liền với các giai đoạn tố tụng và được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do đó THADS chính là một hoạt động tư pháp là giai đoạn cuối của tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, quan điểm này lại không lý giải được một vấn đề thực tiễn pháp lý đang thừa nhận đó là cơ quan THADS không phải là cơ quan tiến hành tố tụng, chấp hành viên (CHV) THADS không phải là người tiến hành tố tụng. Quan điểm thứ hai cho rằng: hoạt động THADS không phải là hoạt động tư pháp, bởi vì không những thi hành các vụ án dân sự, mà còn có trình tự, thủ tục thi hành phần dân sự trong các bản án hình sự, kinh doanh thương mại, hành chính, lao động…, trình tự tổ chức thi hành theo một trình tự thủ tục hành chính. Do đó nó là một loại hoạt động hành chính [3]vì bản chất, 8 Luan van mục đích của thi hành án dân sự khác hoàn toàn với tố tụng, không thể gắn nó với hoạt động tố tụng dân sự. Quan điểm này xuất phát từ bản chất và mục đích của tố tụng dân sự là xác định sự thật khách quan của các vụ án dân sự, vụ việc dân sự để đưa ra các phán quyết đúng theo quy định của pháp luật.
Để có được các phán quyết đó, các cơ quan tiến hành tố tụng, các cá nhân tiến hành tố tụng tham gia theo một quy trình tố tụng chặt chẽ, công khai và minh bạch. Còn hoạt động THADS lại là một quy trình đi ngược lại với quy trình thủ tục, tố tụng. Cơ quan THADS thường phải đưa ra một quyết định mang tính hành chính dựa trên một văn bản cá biệt (văn bản áp dụng pháp luật) để điều chỉnh hoạt động của cá nhân, đối tượng phải có nghĩa vụ thi hành án và chủ thể được thi hành án. Ngoài ra, THADS còn có thể coi là hoạt động hành chính vì bản chất, hoạt động này là hoạt động chấp hành và điều hành, theo đó mà nó mang tính quản lý hành chính nhà nước rõ nét.
Tuy nhiên, nếu xem THADS là hoạt động hành chính thì sẽ khó lý giải với những trường hợp người được THADS không làm đơn yêu cầu THADS thì cơ quan THADS không thể có cơ sơ để thực hiện (trừ trường hợp bắt buộc để bảo vệ những người không có khả năng tự mình thực hiện các quyền của họ) và qua đó có thể áp dụng các phương pháp hành chính như: mệnh lệnh, quyền uy để đưa ra các biện pháp cưỡng chế THADS được, do đó yếu tố hành chính không hoàn toàn được thỏa mãn. Ngoài ra, yếu tố hành chính cũng không hoàn toàn được thỏa mãn khi chế định Thừa phát lại được thí điểm áp dụng, khi việc THADS không chỉ do các cơ quan nhà nước (cơ quan thi hành án) thực hiện mà có thể do các tổ chức như thừa phát lại hoặc được chính các chủ thể phải thi hành án tự nguyện thực hiện trên cơ sở của những phương pháp có tính chất dân sự như thỏa thuận, tự định đoạt (trong những phạm vi nhất định). Quan điểm thứ ba cho rằng, THADS là hoạt động “lưỡng tính”, vừa mang tính chất hành chính, vừa mang tính chất tư pháp chứ không thể chỉ có 9 Luan van riêng tính chất hành chính, hoặc riêng tính chất tư pháp. THADS là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, do cơ quan THADS và CHV thực hiện nhằm đưa quyết định của các bản án, quyết định về dân sự của Toà án đi vào thực tiễn cuộc sống.
Hoạt động THADS trên thực tế luôn gắn liền với quy trình tố tụng nói chung và quy trình tố tụng dân sự nói riêng, gắn với quyền lực hành pháp. Đồng thời, cũng qua hoạt động THADS, các cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ phải THADS phải thực hiện đầy đủ các trách nhiệm của mình. Trong trường hợp không thi hành quyết định thi hành án thì cá nhân, tổ chức đó phải chịu sự cưỡng chế của Nhà nước thông qua các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ liên quan. Tuy nhiên, việc thi hành án không chỉ do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện mà có khi nó được thực hiện một cách tự giác bởi người có nghĩa vụ thi hành án.
Khi nào các bản án, phán quyết không được thi hành một cách tự nguyện bởi người có nghĩa vụ thì hoạt động cưỡng chế thi hành án của chủ thể có thẩm quyền mới cần phải thực hiện. Cả ba quan điểm trên đều có điểm hợp lý nhưng theo tác giả, quan điểm thứ ba là phù hợp hơn cả. Bởi vì, xuất phát từ các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác thi hành án dân sự ở nước ta, có thể nói rằng, THADS là hoạt động đặc thù, vừa có tính chất của hoạt động hành chính, vừa có tính chất của hoạt động tư pháp. Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu: Thi hành án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định để đưa bản án, quyết định của Tòa án hoặc các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật được thực hiện trên thực tế, là giai đoạn cuối cùng của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong các quan hệ dân sự.
Đặc điểm của thi hành án dân sự THADS là hoạt động phức tạp với những đặc điểm sau: Thứ nhất, THADS là hoạt động liên quan đến quyền lực nhà nước. Nó bao gồm nhiều hoạt động của nhiều chủ thể khác nhau nên đòi hỏi sự tham gia của chủ thể không chỉ các cơ quan hành chính nhà nước mà cả các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp cũng như của chính người có nghĩa vụ thi hành án. Do đó, như đã phân tích, việc thực hiện quyền lực nhà nước trong THADS là sự ''lưỡng tính” giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp. Tuy nhiên, khác với THAHS, THADS không hoàn toàn mang tính quyền lực nhà nước do có sự tham gia của chủ thể không mang quyền lực nhà nước, có hoạt động thực hiện các phán quyết của các chủ thể được nhà nước trao quyền hoặc công nhận (phán quyết của trọng tài), cho phép tồn tại sự thỏa thuận giữa các bên.
Vì vậy THADS không hoàn toàn dùng các biện pháp cứng nhắc của quyền lực nhà nước. Thứ hai, THADS là hoạt động có mục đích là để thực hiện lợi ích của người được thi hành án. Hoạt động THADS không chỉ nhằm mục đích giữ vững kỷ cương, phép nước, giữ vững giá trị của pháp luật mà còn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức, nhà nước là đối tượng trực tiếp được thi hành án. Đồng thời THADS còn phải đảm bảo lợi ích hợp pháp của những người có liên quan đến tài sản là đối tượng trong các quyết định THADS.