CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN YÊU CẦU CẤP PHIẾU LÝ LỊCH TƯ PHÁP CỦA CÁ NHÂN 1. Khái niệm lý lịch tư pháp, phiếu lý lịch tư pháp 1. Lý lịch tư pháp Theo cách hiểu thông thường: Lý lịch là văn bản ghi nhận những điều cần biết về quá khứ và hiện tại của một người hay một vật. Đối với người, lý lịch là những điều cần biết về yếu tố nhân thân, lịch sử, hoàn cảnh gia đình, xã hội của người đó.
Lý lịch hành chính là loại hồ sơ lai lịch về con người, gồm những vấn đề về yếu tố nhân thân (như họ tên, giới tính, tuổi, quê quán, dân tộc, quốc tịch,…), về hoàn cảnh gia đình (cha, mẹ, vợ, con, anh, chị, em,…), hoàn cảnh chính trị-xã hội (tham gia các tổ chức chính trị như đảng, đoàn thể), trình độ văn hóa, chuyên môn của người đó (quá trình học tập, đào tạo), quá trình tham gia công tác, chức vụ, lương bổng,… Đối với đồ vật là máy móc, lý lịch là bản kê tính năng kỹ thuật, hồ sơ nguyên lý làm việc, cách lắp đặt của máy móc. Ở các nước khác nhau, Trần Thất (Chủ nhiệm, 2007) chỉ ra rằng “về mặt khái niệm thì thuật ngữ ‘LLTP’ được sử dụng một cách không giống nhau. Tuy vậy, các thuật ngữ này đều hàm chứa những nội dung tương tự. Trong tiếng Anh có từ ‘Crimimal records’, trong tiếng Đức có từ ‘Strafregister’, trong tiếng Tây Ban Nha có từ ‘Registro de penados’, trong tiếng Italia có từ ‘Casellario giudiziale’.
Thuật ngữ ‘Casier judiciaire’ trong tiếng Pháp (được dịch là LLTP). Thuật ngữ này xuất hiện ở Pháp sớm nhất cách đây khoảng 160 năm (giữa thế kỷ thứ XVIII). Trong tiếng Pháp từ Casier có nghĩa là cái tủ hoặc cái giá nhiều ngăn. Như vậy, theo cách gọi của tiếng Pháp từ ‘Casier judiciaire’ gợi cho ta hình dung về những ngăn tủ có chứa đựng những hồ sơ (những tập Fiche) về tư pháp.
Nói một cách hình ảnh đó là nơi lưu trữ về án tích của những người đã can án. Nhìn chung, LLTP được hiểu một cách chung nhất, khái quát nhất là hồ sơ về phương diện tư pháp của một đối tượng cụ thể. Khái niệm này tuy còn rất khái quát nhưng có tác dụng định hướng, giới hạn để 10 đi sâu tìm hiểu, xác định những nội dung cụ thể của LLTP, từ đó có một định nghĩa toàn diện, cụ thể hơn.” Ở Việt Nam, từ những nghiên cứu của mình, Ban chủ nhiệm đề tài khoa học cấp Bộ năm 1996 “LLTP - thực trạng, phương pháp tổ chức, quản lý và hoạt động trong điều kiện mới” do Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp là cơ quan chủ trì với mã số đăng ký: 96-98-003/ĐT có định nghĩa “LLTP là những giấy tờ, thông tin, tài liệu phản ánh tình trạng pháp lý của một người, nội dung ghi lại các bản án, các quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân các cấp và các quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có nội dung hạn chế, cấm quyền hoặc tước bỏ một số quyền cơ bản đối với một cá nhân cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội khi người đó tham gia vào các quan hệ xã hội cụ thể”. Với định nghĩa này, Dương Bạch Long (2007) đã chỉ ra rằng “LLTP được hiểu theo nghĩa rộng và gần với quan điểm về tỳ vết pháp lý và đây là mục tiêu của quản lý LLTP nhằm phục vụ cho quản lý, phòng và chống tội phạm”.
Viện khoa học pháp lý (2006) định nghĩa LLTP “là những thông tin về tình trạng pháp lý của một cá nhân do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có yêu cầu nhằm xác định người đó có hoặc không có tiền án”. Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành: “LLTP là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản”. Phiếu lý lịch tư pháp Bên cạnh, việc lưu giữ án tích của người phạm tội bằng các phiếu (fiche) của LLTP trong pháp luật hình sự hiện đại, ngay từ thời phong kiến hình luật của Việt Nam đã quy định việc lưu giữ án tích của người phạm tội bằng cách “thích chữ vào mặt, chặt ngón tay, ngón chân hoặc cắt tai, … tùy theo từng tội phạm”. Về mặt hình phạt, để phân biệt một người đã có án và một người bình thường, theo Vũ Quốc Thông 11 (1971) “luật pháp qua các triều đại phong kiến đã có các hình thức ghi nhớ án tích của kẻ phạm tội như sau: Luật năm thứ sáu, niên hiệu Thiên Phủ Duệ vụ (1126) đời vua Lý Nhân Tông định rằng: Kẻ đánh chết người phải làm tội đồ, bị đánh 100 trượng và thích 50 chữ vào mặt; Năm 23, đời vua Lý Anh Tông (1161) luật định kẻ nào tự hoạn sẽ bị đánh 80 trượng và thích vào cánh tay trái 23 chữ; Năm thứ 6, đời vua Thái Tông (1231) luật định kẻ phạm tội tuỳ theo loại có thể bị thích 6 chữ vào mặt hoặc 4 chữ vào trán; Đời vua Thái Tổ nhà Lê (1428) đã đặt luật cấm cờ, bạc: đánh bạc phải chặt ngón tay 5 phân, đánh cờ chặt ngón tay 1 phân”.
Ngoài ra theo Viện Sử học Việt Nam (2017) thì “hình phạt lúc này được phân làm 5 loại gồm: xuy hình (đánh roi), trượng hình (đánh trượng) đồ hình, lưu hình và tử hình. Người phạm tội bị hình phạt đồ hay lưu, thì theo Điều 9 Chương danh lệ Bộ luật này quy định: người phải tội lưu, thích chữ vào mặt; tội đồ thì thích vào cổ, tượng phường binh thích hai chữ, chúng điền binh thích 4 chữ. Tội lưu thì thích ở mặt, châu gần thì thích 6 chữ châu ngoài 8 chữ châu xa 10 chữ. Về khổ chữ thì quan lại phạm tội thì thích chữ lớn 3 phân, tạp phạm 5 phân, trộm cướp 7 phân, ác nghịch 10 phân hoặc không hạn định phân.
Quan lại có chức vụ từ ngũ phẩm trở lên, tản quan và tước từ tam phẩm trở lên thì số chữ xét cho giảm bớt. Nhìn chung, hình thức thích chữ vào mặt thường được áp dụng đối với tội đại hình với hình phạt lưu đày, việc thích chữ vào mặt có ý nghĩa để đánh dấu nhiều hơn là hình phạt; hình thức chặt ngón tay, ngón chân thường được áp dụng đối với loại tội như trộm cắp, hình phạt này vừa có ý nghĩa là hình phạt vừa có ý nghĩa là để ghi nhớ án tích của kẻ phạm tội”. Trần Thất (Chủ nhiệm, 2007) chỉ ra rằng “LLTP thành văn (được ghi và quản lý bằng văn bản) ra đời thay thế cho hình thức đánh dấu, ghi nhớ tội phạm của thời phong kiến. LLTP thành văn có những ưu điểm sau: không làm đau và nhục người phạm tội; có thể ghi nhận đầy đủ, chi tiết về người phạm tội (như: họ tên, tuổi, nơi sinh, nơi cư trú, quan hệ thân thích, Toà án xét xử, tội danh, hình phạt, kết quả thi hành hình phạt, người phạm tội đã có bao nhiêu tiền án,.
Những thông tin này là rất cần thiết cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và quản lý xã hội. LLTP thành văn phổ biến nhất lúc đầu là hình thức Sổ bộ ghi chép các bản án mà Toà án 12 đã tuyên hàng năm. Căn cứ vào sổ bộ của Toà án, người ta có thể truy tìm được án tích của một người nào đó. Tuy nhiên hình thức sổ bộ có những điểm hạn chế cơ bản như: (i) sổ bộ là cuốn sổ chung trong đó ghi chép án tích của nhiều người, đồng thời sổ bộ lại thay đổi theo hàng năm nên khi muốn tra cứu án tích của một người nào đó, ta phải lần tìm, tra cứu trong tất cả những quyển sổ bộ xem người đó có án tích không, việc này lại càng khó khăn hơn khi can phạm thay đổi chỗ ở dẫn tới việc thay đổi Toà án có thẩm quyền xét xử; (ii) sổ bộ thường chỉ ghi chép được những thông tin ban đầu (tức là những bản án, quyết định ban đầu của Toà án) mà không ghi nhận được những thông tin bổ sung như: các quyết định thi hành án, ân xá, xóa án, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án,.
nên những thông tin trong sổ bộ không phản ánh được diễn biến của can phạm sau khi kết thúc trình tự tố tụng; (iii) những thông tin về tiền án, tiền sự không những chỉ cần đối với cơ quan toà án mà nhiều cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp cũng cần biết những thông tin này ở những mức độ khác nhau để phục vụ cho công tác quản lý, tổ chức nhân sự của cơ quan mình. Để khắc phục những nhược điểm này, LLTP theo kiểu “casier judiciaire” ra đời theo sáng kiến của một vị thẩm phán người Pháp. Đặc điểm của LLTP theo kiểu ‘casier judiciaire’ là việc lập ra 3 loại phiếu LLTP (số 1, số 2, số 3) về tiền án, tiền sự đối với từng cá nhân. Nội dung thông tin ghi chép trong mỗi loại phiếu được pháp luật quy định một cách cụ thể.
LLTP theo kiểu ‘casier judiciaire’ là hình thức cải tiến nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng phong phú, đa dạng, cụ thể, chặt chẽ của hoạt động tư pháp và hoạt động quản lý”. Ở Việt Nam, từ thời Pháp thuộc, dân chúng đã biết đến "Tư pháp lý lịch" qua đạo luật ngày 5-8-1899 về tư pháp lý lịch và phục quyền do Toàn quyền Đông Dương ban hành áp dụng tại Nam phần. Viện khoa học pháp lý (2007) chỉ ra rằng “Tư pháp lý lịch” đã được quy định khá đầy đủ và chi tiết trong Dụ số 14 do Quốc trưởng Bảo Đại ký ngày 1-9-1951. Tuy trong Dụ này không có định nghĩa “Tư pháp lý lịch” nhưng có thể tìm thấy khái niệm này ở một số quyển sách được xuất bản trước năm 1975.