CHƯƠNG 1 CƠ SNG 1. hương 2LU QUVU QUYQUY ĐAY ĐỔI HỘ TỊCH 1. Khái niệm chung về hộ tịch 1. Hộ tịch và đặc điểm hộ tịch - Về khía cạnh ngôn ngữ Theo Từ điển học sinh (Nhà xuất bản Giáo dục - 1972) thì hộ tịch là quyển sổ lớn của chính quyền một địa phương trong đó ghi chú đầy đủ số người, tên tuổi, nghề nghiệp, quê quán.
của từng người dân sống ở địa phương đó. Theo Hán Nôm từ hộ tịch được hiểu là: Hộ là nhà cửa; Tịch là sổ sách ghi chép việc liên quan đến tình trạng nhân thân của mỗi người theo quan hệ về gia đình trong các việc sinh, tử, kết hôn…1 Xét từ góc độ ngôn ngữ học, hộ tịch là một từ ghép gốc Hán chính phụ, được ghép từ hai thành tố có nghĩa độc lập, trong đó tịch là thành tố chính. Xét về mặt từ loại thì đây là một danh từ thuộc nhóm danh từ chỉ khái niệm trừu tượng. Nếu tìm hiểu riêng từng thành tố thì có thể thấy, các từ điển hiện nay khá thống nhất trong cách hiểu từng từ đơn này.
Theo đó từ hộ khi sử dụng là danh từ thì có nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có một nghĩa trực tiếp là “dân cư” hoặc “nhà ở” hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những người cùng ăn ở với nhau”. Tương tự, từ tịch có nghĩa là “sổ sách” hoặc “sổ đăng ký quan hệ lệ thuộc”. Tuy nhiên việc kết hợp hai từ này lại thành hộ tịch lại là một trường hợp đặc biệt về mặt ngôn ngữ và được sử dụng với thuộc tính hạn chế về việc sử dụng từ ngũ và khả năng tổ hợp từ ngữ. Chính do thuộc tính đặc biệt ấy nên khảo cứu qua các từ điển tiếng Việt thì thấy có nhiều cách giải nghĩa từ hộ tịch với rất khác nhau.
Các từ điển Hán Việt của nhiều 1 Hàng Thị Huyền (2017), Quản lý nhà nước về hộ tịch ở Quận 10 thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, tr. 8 tác giả khác nhau (Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Bửu Kế, Nguyễn Lân, Hoàng Thúc Trâm) đều có sự tương đồng và những khía cạnh đặc biệt trong giải nghĩa từ hộ tịch.2 Như vậy, nghĩa của từ hộ tịch xét về góc độ ngôn ngữ còn nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí có cuốn từ điển còn thể hiện sự nhầm lẫn giữa hộ tịch và hộ khẩu. Điều đó cho thấy việc nhầm lẫn giữa hai khái niệm hộ tịch và hộ khẩu trong xã hội còn khá phổ biến. - Về khía cạnh pháp lý Xét về khía cạnh là một khái niệm pháp lý, khái niệm hộ tịch là một trường hợp đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt.
Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ định nghĩa một cách minh bạch. Trên thực tế đã từng có những cuộc khảo sát trong giới chuyên môn về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng hơn, dễ hiểu hơn. Tuy nhiên do khái niệm này, trải qua một quá trình lịch sử, trở thành một khái niệm có tính chất phổ thông, ăn sâu trong nhận thức nhân dân nên giải pháp đi tìm khái niệm Việt hóa thay thế nó không được lựa chọn, thay vào đó, các nhà xây dựng pháp luật đã dung hòa bằng giải pháp mà Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho phép, đó là sử dụng nó với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa nó trong văn bản.3 Vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch ở nước ta được thực hiện từ rất sớm (thời nhà Trần). Trải qua các thời kỳ phong kiến, thực dân, hộ tịch luôn gắn với vấn đề quản lý con người (“đinh”) bên cạnh vấn đề quản lý đất đai (“điền”) - là hai vấn đề đã từng được thực hiện một cách bài bản, có hệ thống.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp 2 Nguyễn Quốc Thanh (2018), “Pháp luật về thay đổi, cải chính hộ tịch của cá nhân”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Kinh tế - Luật, tr. 3 Hàng Thị Huyền (2017), Quản lý nhà nước về hộ tịch ở Quận 10 thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, tr. 9 tục duy trì và phát triển. Theo tinh thần Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thể lệ đăng ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu được áp dụng ở Nam kỳ, Hoàng Việt hộ luật được áp dụng ở Trung kỳ và Dân luật Bắc kỳ tiếp tục được áp dụng ở Việt Nam.
Điều đó cho thấy công tác hộ tịch đóng vai trò quan trọng và luôn được duy trì trong bất cứ hoàn cảnh nào. Ngày 08/5/1956, Chính phủ ban hành Nghị định số 764/TTg kèm theo Bản Điều lệ hộ tịch. Ngày 16/01/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 04/CP kèm theo Bản Điều lệ đăng ký hộ tịch mới thay thế Nghị định số 764/TTg. Bước vào thời kỳ đổi mới, căn cứ vào quy định của Bộ luật dân sự, Luật HN&GĐ và các luật liên quan khác, Chính phủ đã ban hành 8 Nghị định điều chỉnh lĩnh vực hộ tịch4 (cả hộ tịch trong nước và hộ tịch có yếu tố nước ngoài).
Khái niệm hộ tịch được diễn giải qua các thời kỳ như sau: Theo Nghị định 764/TTg ngày 08/5/1956 của Thủ tướng Chính phủ quy định “Bản điều lệ này quy định những nguyên tắc và thủ tục đăng ký các việc sinh, tử, kết hôn, sửa chữa các điều đã đăng ký; ghi chú các việc thay đổi về hộ tịch cấp phát giấy chứng nhận các việc ấy” Điều lệ hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 04/CP ngày 16/01/1961 của Hội đồng Chính phủ năm 1961 cũng quy định “đăng ký hộ tịch là việc ghi vào sổ của Ủy ban hành chính cơ sở những việc sinh, tử, kết hôn và những việc có liên quan như nuôi con nuôi, nhận con ngoài giá thú, nhận cha, mẹ đẻ, thay đổi quốc tịch, thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày, tháng, năm sinh…” 4 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch; Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật HN&GĐ; Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định việc áp dụng Luật HN&GĐ đối với các dân tộc thiểu số; Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN&GĐ về quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP; Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch; Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân gia đình và chứng thực; Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN&GĐ về quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài. 10 Tiếp theo, Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ quy định về đăng ký hộ tịch và Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết.” Kế thừa những quy định trước đó, Khoản 1 Điều 2 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết, bao gồm: Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch; Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật. Như vậy Luật Hộ tịch năm 2014 đã có quy định cụ thể hơn về khái niệm hộ tịch so với Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Điều này là cần thiết để tạo ra sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật.
Từ những quan niệm trên về hộ tịch, có thể thấy hộ tịch có những đặc điểm như sau: + Hộ tịch là giá trị nhân thân, gắn với mỗi cá nhân. Các dấu hiệu về thời điểm sinh, thời điểm chết, thông tin cha mẹ, giới tính, dân tộc, quê quán giúp phân biệt cá nhân này với cá nhân khác. Đây các giá trị nhân thân gắn liền với một cá nhân cụ thể từ khi sinh ra đến khi chết đi. + Hộ tịch về nguyên tắc là không thể chuyển giao cho người khác.
Đây là hệ quả từ nguyên tắc thứ nhất. Do đó việc đăng ký hộ tịch phải do chính người đó thực hiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Ví dụ như khai sinh, khai tử có thể do những người có trách nhiệm đi khai sinh hoặc khai tử thực hiện như cha, mẹ, người thân thích,… 11 + Hộ tịch là những sự kiện nhân thân không thể lượng hóa được thành tiền, do đó, hộ tịch không phải là hàng hóa trao đổi trên thị trường. + Hộ tịch là một loại dịch vụ công, phục vụ chủ yếu cho công tác quản lý hành chính.
Thông tin hộ tịch Trước khi tìm hiểu về quyền thay đổi hộ tịch, chúng ta cần hệ thống lại các quy định của pháp luật về các thông tin hộ tịch – các yếu tố tạo thành tình trạng nhân thân của cá nhân. Theo quan điểm hiện đại, các yếu tố cấu thành tình trạng nhân thân rất da dạng: tuổi, giới tính, dân tộc,…Các yếu tố cấu thành tình trạng nhân thân có chức năng góp phần “định vị” cá nhân về mặt xã hội và qua đó đặt cơ sở cho việc trao cho cá nhân một quy chế dân sự5. Như đã phân tích, hộ tịch là những sự kiện cơ bản liên quan đến tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra cho đến khi chết đi. Như vậy, tất cả những thông tin có liên quan đến những sự kiện này đều được xem là thông tin hộ tịch.
Hiện quy định của pháp luật không giải thích hay định nghĩa về thông tin hộ tịch.