Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Hoàng Dũng được thực hiện trong bối cảnh các hoạt động kinh tế - xã hội tại Việt Nam phục hồi sau giai đoạn giãn cách vì đại dịch Covid-19, kéo theo sự gia tăng nghiêm trọng của tình trạng ô nhiễm không khí, đặc biệt tại các đô thị lớn và các trung tâm công nghiệp.

Số liệu quan trắc thực tế cho thấy chất lượng không khí tại khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên ở mức màu cam (nồng độ bụi mịn PM2.5 đạt 107 µg/m³) đến màu đỏ (171 µg/m³). Trong khi đó, tại Hà Nội, mức độ ô nhiễm biểu thị ở mức màu tím và tím đậm với nồng độ bụi mịn PM2.5 trung bình toàn thành phố vào khoảng 190 µg/m³, có những thời điểm và khu vực lên đến 345 µg/m³. Các nghiên cứu được tác giả trích dẫn chỉ ra cơ cấu nguồn phát thải có sự khác biệt rõ rệt giữa hai thành phố: tại Thành phố Hồ Chí Minh, nguồn gây ô nhiễm chính là giao thông đường bộ (58,2%), hoạt động công nghiệp (22,8%), đun nấu dân sinh và thương mại (12,8%); còn tại Hà Nội, hoạt động công nghiệp và làng nghề chiếm tới 48,3%, giao thông chiếm 21,3%, đốt phụ phẩm nông nghiệp chiếm 20,2%, đun nấu dân dụng và thương mại chiếm 6,6%, cùng 3,6% từ các nguồn khác. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm toàn cầu có khoảng 7 triệu ca tử vong liên quan đến ô nhiễm không khí, trong đó tại Việt Nam con số này là khoảng 60.000 người.

Về phương diện lập pháp, dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã được ban hành với nhiều điểm sửa đổi so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh kiểm soát ô nhiễm không khí vẫn còn bộc lộ nhiều điểm phân tán, quy chuẩn kỹ thuật môi trường xung quanh đã lạc hậu, thiếu vắng các quy chuẩn kỹ thuật đối với môi trường không khí trong nhà, chưa có cơ chế tính toán thiệt hại môi trường không khí cũng như các quy định về phí bảo vệ môi trường đối với khí thải. Thực tiễn này thúc đẩy tác giả thực hiện nghiên cứu đánh giá pháp luật gắn với việc khảo sát tại Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là đánh giá những ưu điểm, hạn chế của hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam, kết hợp với việc nghiên cứu thực tiễn tại Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công; trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định 05 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận căn bản về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí;
  2. Phân tích cơ sở ban hành và các chủ thể tham gia kiểm soát ô nhiễm không khí;
  3. Phân tích nội dung pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí;
  4. Phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí;
  5. Đưa ra các giải pháp, quan điểm nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các lý thuyết về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí; các quy định pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn (từ Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 đến năm 2020) và thực tiễn thực hiện các quy định này tại Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công.
  • Phạm vi nội dung: Hệ thống quy phạm pháp luật môi trường hiện hành của Việt Nam và các văn bản tiền nhiệm phục vụ mục đích so sánh pháp lý.
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn thực hiện pháp luật tại Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công (tỉnh Thái Nguyên).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn hiện tại (thời điểm Luật Bảo vệ môi trường 2020 có hiệu lực thi hành), kết hợp đối chiếu lịch sử từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 bắt đầu có hiệu lực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận dựa trên khoa học pháp lý môi trường, làm rõ bản chất tự nhiên và pháp lý của môi trường không khí. Không khí được định nghĩa là thành phần môi trường bao quanh trái đất, cung cấp dưỡng khí thiết yếu cho sinh vật và con người, cấu thành từ hỗn hợp khí gồm nitơ (78,1% theo thể tích), oxy (20,9%), agon (0,9%), dioxit cacbon (khoảng 0,035%), hơi nước và một số khí khác. Dưới góc độ pháp lý, căn cứ khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, ô nhiễm môi trường được hiểu là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên. Hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí bao gồm tổng thể các khâu: phòng ngừa, dự báo; theo dõi, quan trắc, kiểm tra, giám sát, phát hiện; ngăn chặn; và xử lý vi phạm.

Tác giả luận giải cơ sở ban hành pháp luật kiểm soát ô nhiễm không khí trên ba bình diện:

  • Cơ sở kinh tế: Tránh việc đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế thiếu bền vững, hạn chế tác động tiêu cực của các mô hình kinh doanh chạy theo lợi nhuận gây cạn kiệt tài nguyên và gia tăng xả thải.
  • Cơ sở xã hội: Áp lực từ tốc độ gia tăng dân số, đô thị hóa và lượng phương tiện giao thông bùng nổ (tính đến tháng 2/2020, Việt Nam có gần 3,6 triệu ô tô và hơn 45 triệu xe máy); khói bụi công nghiệp từ các nhà máy chứa khí CO2, CO, SO2, NOx phát sinh nguy cơ hình thành các "làng ung thư".
  • Cơ sở pháp lý: Pháp luật là công cụ bắt buộc hóa trách nhiệm bảo vệ môi trường thông qua bốn hình thức chế tài: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm kỷ luật.

Nghiên cứu xác lập năm nguyên tắc pháp lý căn bản điều chỉnh lĩnh vực này:

  1. Nguyên tắc bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành (ghi nhận tại Lời nói đầu Luật BVMT 1993, hiến định tại Hiến pháp 2013 và cụ thể hóa tại khoản 3 Điều 4 Luật BVMT 2020);
  2. Nguyên tắc bảo đảm phát triển bền vững (ghi nhận tại Điều 57 và Điều 98 Luật BVMT 2020);
  3. Nguyên tắc kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí tại nguồn (quy định tại các Điều 57, 60, 62, 64, 68, 75, 81 Luật BVMT 2020);
  4. Nguyên tắc ưu tiên sử dụng công cụ kinh tế như chính sách tài trợ, chính sách thuế, phí bảo vệ môi trường, giấy phép phát thải chuyển nhượng, nhãn môi trường, bảo hiểm (ghi nhận tại Điều 5, Điều 136 Luật BVMT 2020);
  5. Nguyên tắc xã hội hóa các hoạt động bảo vệ môi trường không khí.

Về phương pháp nghiên cứu, khóa luận kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp lý và thực tiễn:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu nhằm mổ xẻ các điều luật, quy chuẩn kỹ thuật, đường lối chính sách và tổng hợp thành các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp thống kê: Áp dụng chủ yếu tại Chương 2 để tổng hợp số liệu về nồng độ phát thải, kết quả xử lý các cơ sở ô nhiễm nghiêm trọng và các số liệu kiểm soát chất thải nội bộ doanh nghiệp.
  • Phương pháp so sánh: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 nhằm đối chiếu sự phát triển của các quy định qua các thời kỳ Luật Bảo vệ môi trường (1993, 2005, 2014, 2020) và so sánh quy chuẩn môi trường Việt Nam với quốc tế (như Singapore).
  • Phương pháp quy nạp: Rút ra các kết luận chung về tính hiệu quả của pháp luật từ việc phân tích các vụ việc điển hình và hoạt động tuân thủ của doanh nghiệp cụ thể.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Được tác giả định hướng sử dụng để tìm hiểu quan điểm của các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp chủ nguồn thải và cộng đồng dân cư.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm văn bản quy phạm pháp luật (Luật Bảo vệ môi trường các thời kỳ, các Nghị định số 80/2022/NĐ-CP, 38/2015/NĐ-CP, 03/2015/NĐ-CP, 155/2016/NĐ-CP, 179/2013/NĐ-CP, 40/2019/NĐ-CP; Thông tư số 36/2015/TT-BLĐTBXH; Quyết định số 1788/QĐ-TTg, 64/2003/QĐ-TTg, 16/2015/QĐ-TTg; quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT); Báo cáo Hiện trạng Môi trường Việt Nam giai đoạn 2016-2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Báo cáo công tác thanh tra năm 2021 của Thanh tra Bộ TN&MT; và hệ thống văn bản quản lý chất thải nội bộ của Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công (Quy định QĐ/24-001, các biểu mẫu BM/04-000-010b, BM/24-001-001, BM/24-001-002, PL/24-001-001, QĐ/24-004).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về kiểm soát ô nhiễm không khí và vai trò điều chỉnh của pháp luật. Tác giả phân tích 5 đặc điểm tự nhiên của môi trường không khí: mang tính khuếch tán và lan truyền nhanh; không thể phân chia ranh giới địa lý; thuộc sở hữu chung của toàn nhân loại; khó xác định giá trị kinh tế trực tiếp; và tác động đến sức khỏe con người mang tính tích tụ lâu dài, khó đong đếm ngay thiệt hại cấp tính. Từ đó, tác giả chỉ ra các đặc thù của kiểm soát ô nhiễm không khí: bắt buộc phải kiểm soát ngay tại nguồn phát thải; đòi hỏi liên kết vùng và hợp tác quốc tế; đặt trách nhiệm hàng đầu lên Nhà nước và chủ nguồn thải; và phải ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại.

Chương 1 cũng làm rõ nội dung pháp luật kiểm soát ô nhiễm không khí gồm năm chế định chủ chốt:

  1. Quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn môi trường không khí;
  2. Phòng ngừa và dự báo ô nhiễm môi trường không khí;
  3. Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và kế hoạch bảo vệ môi trường không khí (KBM);
  4. Thanh tra, kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và khắc phục ô nhiễm;
  5. Xử lý các hành vi vi phạm pháp luật gây ô nhiễm môi trường không khí.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí

Chương 2 là phần trọng tâm, phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tế thi hành tại Việt Nam cũng như tại đơn vị khảo sát:

  • Tiến trình lập pháp: Tác giả phân tích sự tiến hóa qua 4 thế hệ Luật Bảo vệ môi trường: Luật năm 1993 chưa có quy định riêng và chưa có thuật ngữ kiểm soát ô nhiễm; Luật năm 2005 bước đầu đề cập nhưng chưa định nghĩa khái niệm; Luật năm 2014 lần đầu tiên định nghĩa kiểm soát ô nhiễm (Điều 3), chính thức ghi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 4) và ban hành các quy chuẩn kỹ thuật; Luật năm 2020 tiếp tục hoàn thiện, bổ sung quy định về hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường và quan trắc môi trường (Điều 106 đến Điều 110).
  • Thực trạng quy chuẩn kỹ thuật: Các quy chuẩn kỹ thuật hiện hành (tiêu biểu là QCVN 05:2013/BTNMT) đã bộc lộ sự lạc hậu sau 8-10 năm áp dụng, ngưỡng phát thải cho phép còn quá thấp so với các nước trong khu vực. Báo cáo Hiện trạng Môi trường 2016-2020 chỉ ra nồng độ bụi PM10 và PM2.5 tại tất cả các trạm quan trắc tự động ở Hà Nội giai đoạn 2018-2020 đều vượt chuẩn từ 1,1 đến 2,2 lần; ngày 04/01/2022, chỉ số bụi mịn chạm mức 326 khiến Hà Nội đứng đầu thế giới về mức độ ô nhiễm không khí. Bên cạnh đó, pháp luật còn thiếu vắng quy chuẩn về mùi và quy chuẩn kỹ thuật đối với môi trường không khí trong nhà.
  • Thực trạng đánh giá tác động môi trường (ĐTM, ĐMC): Quy định báo cáo ĐMC chỉ dừng ở việc dự báo biến đổi khí hậu chung chung mà thiếu yêu cầu phân tích cụ thể tác động đến không khí. Trong các báo cáo ĐTM của doanh nghiệp, việc đánh giá tác động đến không khí thường bị xem nhẹ, chủ yếu chỉ tập trung vào môi trường đất và nước; xảy ra tình trạng sao chép báo cáo ĐTM giữa các dự án mà vẫn được phê duyệt (dẫn chứng dự án Đồng Nai 6, Đồng Nai 6A, dự án san lấp sông Đồng Nai, khai thác bô xít Tây Nguyên).
  • Công tác thanh tra, kiểm tra và khắc phục ô nhiễm: Tác giả trích dẫn Báo cáo công tác năm 2021 của Thanh tra Bộ TN&MT: tiếp 137 lượt công dân (192 người, 11 lượt đoàn đông người), xử lý 2.172 lượt đơn tương ứng 1.172 vụ việc. Hoạt động thanh tra còn chồng chéo giữa cấp Bộ, Tổng cục và Sở; việc kiểm soát khí thải phương tiện giao thông còn bỏ ngỏ, đặc biệt là tình trạng lưu hành xe máy cũ nát từ những năm 1970, 1980. Cơ chế công khai thông tin môi trường chưa minh bạch về thời điểm và phương thức, dẫn đến người dân chịu thiệt thòi sau các sự cố như cháy nhà máy Rạng Đông hay sự cố nước sông Đà. Nghị định số 03/2015/NĐ-CP chưa có quy định hướng dẫn xác định thiệt hại đối với môi trường không khí.
  • Thực trạng xử lý vi phạm: Chế tài hành chính (Nghị định 155/2016/NĐ-CP) quy định mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức là 2 tỷ đồng, cá nhân là 1 tỷ đồng; mức phạt này chưa đủ sức răn đe khiến doanh nghiệp chấp nhận nộp phạt để tiếp tục vi phạm. Chế tài hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 2015 đã chuyển Tội gây ô nhiễm môi trường sang cấu thành hình thức nhưng chỉ áp dụng với hành vi xả thải khí và bụi, chưa bao quát hành vi gây mùi khó chịu, đồng thời quy định ngưỡng tải lượng phát thải quá phức tạp để chứng minh trên thực tế; dẫn tới việc chưa có cá nhân nào bị xử lý hình sự về tội danh này. Về việc xử lý cơ sở ô nhiễm nghiêm trọng theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg: cả nước có 370/435 cơ sở hoàn thành xử lý triệt để (đạt 85%), còn 65 cơ sở chưa hoàn thành (5 cơ sở sản xuất kinh doanh, 1 khu công nghiệp, 6 chợ, 3 lò mổ, 6 bệnh viện, 39 bãi rác, 5 cơ sở giáo dục, lao động xã hội); 24/50 địa phương hoàn thành 100% kế hoạch.
  • Thực tiễn tại Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công: Công ty ban hành Quy định quản lý chất thải QĐ/24-001 (sửa đổi ngày 01/7/2021) tuân thủ Luật BVMT, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, Nghị định số 40/2019/NĐ-CP và Thông tư số 36/2015/TT-BLĐTBXH. Quy trình quản lý nội bộ bao gồm:
    • Phân loại chất thải thành 3 nhóm: chất thải công nghiệp kim loại; chất thải công nghiệp phi kim loại; chất thải độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, nguy hại.
    • Đơn vị phổ biến quy định phân loại định kỳ cho công nhân theo quý và năm, cập nhật dữ liệu vào biểu mẫu BM/04-000-010b gửi Ban An toàn môi trường trước ngày 10 của tháng đầu quý và trước ngày 30/1 hàng năm.
    • Tổ chức quan trắc, đo nồng độ và chất lượng không khí định kỳ vào cuối tháng 6 và tháng 12 hàng năm theo biểu mẫu BM/24-001-001 và BM/24-001-002.
    • Xử lý chất thải: chất thải thông thường thuê Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Sông Công; chất thải nguy hại được tập kết và thuê đơn vị có giấy phép xử lý, thời gian lưu giữ tại kho của công ty không quá 6 tháng, đảm bảo theo quy định PL/24-001-001 và QĐ/24-004.

Chương 3: Một số giải pháp (kiến nghị) hoàn thiện (hoặc tổ chức triển khai áp dụng) pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí

Trên cơ sở các phát hiện ở Chương 2, Chương 3 định hình các định hướng và giải pháp hoàn thiện thể chế:

  • Rà soát, sửa đổi, cập nhật hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí theo kịp trình độ quốc tế; ban hành bổ sung quy chuẩn kỹ thuật đối với môi trường không khí trong nhà và quy chuẩn đối với mùi.
  • Hoàn thiện quy định về ĐMC và ĐTM: buộc các dự án phát sinh khí thải phải xây dựng phương án đánh giá tác động không khí chuyên sâu; chấn chỉnh hoạt động thẩm định để loại bỏ tình trạng sao chép báo cáo.
  • Xây dựng cơ chế pháp lý xác định thiệt hại đối với môi trường không khí và bổ sung quy định tính phí bảo vệ môi trường đối với khí thải.
  • Nâng mức xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời sửa đổi các dấu hiệu định tội trong Bộ luật Hình sự (bổ sung hành vi gây ô nhiễm mùi, đơn giản hóa phương thức xác định tải lượng xả thải) để bảo đảm tính khả thi khi truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Tăng cường liên thông hệ thống cơ sở dữ liệu quan trắc môi trường quốc gia và quy định rõ thời hạn, hình thức công khai thông tin chất lượng không khí cho người dân.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận trích xuất và tổng hợp được hệ thống số liệu cụ thể phản ánh hiện trạng môi trường, công tác thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam:

Chỉ số / Nội dung Số liệu trích xuất từ văn bản Nguồn dữ liệu / Căn cứ pháp lý
Nồng độ bụi mịn PM2.5 trung bình tại Hà Nội ~190 µg/m³ (màu đỏ), đỉnh điểm 345 µg/m³; vượt chuẩn 1,1 - 2,2 lần Trạm quan trắc không khí tự động Hà Nội (2018-2020)
Chỉ số bụi mịn cực đại tại Hà Nội ngày 04/01/2022 326 (đứng đầu các thành phố ô nhiễm thế giới) Dữ liệu quan trắc dẫn trong khóa luận
Nồng độ bụi mịn PM2.5 tại TP. Hồ Chí Minh 107 µg/m³ (màu cam) đến 171 µg/m³ (màu đỏ) Dữ liệu quan trắc trung tâm thành phố
Nguồn phát thải PM2.5 tại Hà Nội 48,3% công nghiệp/làng nghề; 21,3% giao thông; 20,2% đốt phụ phẩm Nghiên cứu nguồn thải dẫn trong văn bản
Nguồn phát thải PM2.5 tại TP. Hồ Chí Minh 58,2% giao thông; 22,8% công nghiệp; 12,8% đun nấu Nghiên cứu nguồn thải dẫn trong văn bản
Số ca tử vong liên quan đến ô nhiễm không khí Toàn cầu: 7 triệu người/năm; Việt Nam: ~60.000 người/năm Ước tính của WHO
Số lượng phương tiện cơ giới (đến 02/2020) Gần 3,6 triệu ô tô; hơn 45 triệu xe máy Thống kê dẫn trong khóa luận
Xử lý cơ sở ô nhiễm nghiêm trọng Đã xử lý triệt để 370/435 cơ sở (85%); còn tồn đọng 65 cơ sở Quyết định số 1788/QĐ-TTg
Địa phương hoàn thành xử lý cơ sở ô nhiễm 35/50 tỉnh đạt trên 70%; 24/50 tỉnh đạt 100% kế hoạch Báo cáo Tổng cục Môi trường
Công tác tiếp dân & đơn thư thanh tra (năm 2021) 137 lượt tiếp (192 người); 2.172 đơn (1.172 vụ việc) Báo cáo Thanh tra Bộ TN&MT
Mức phạt tiền hành chính tối đa 2 tỷ đồng (đối với tổ chức); 1 tỷ đồng (đối với cá nhân) Luật BVMT 2020, Nghị định 155/2016/NĐ-CP
Khung thời gian quan trắc tại Diesel Sông Công Tháng 6 và tháng 12 hàng năm; lưu chất thải nguy hại ≤ 6 tháng Quy định nội bộ QĐ/24-001

Các đóng góp chính của đề tài bao gồm:

  • Về mặt lý luận: Hệ thống hóa các giai đoạn phát triển của pháp luật môi trường Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2020, chỉ rõ bước chuyển biến từ nhận thức chung sang các nguyên tắc kiểm soát tại nguồn, sử dụng công cụ kinh tế và đảm bảo quyền hiến định về môi trường trong lành.
  • Về mặt thực tiễn pháp lý: Chỉ ra những khoảng trống lập pháp cụ thể: sự lạc hậu của QCVN 05:2013/BTNMT, việc thiếu hụt quy chuẩn mùi và chất lượng không khí trong nhà; sự thiếu thực chất trong công tác lập và thẩm định báo cáo ĐTM đối với môi trường không khí; sự thiếu vắng chế tài hình sự thực tế đối với hành vi gây ô nhiễm không khí; và việc thiếu cơ chế định giá thiệt hại môi trường không khí trong Nghị định 03/2015/NĐ-CP.
  • Về mô hình thực tế tại doanh nghiệp: Cung cấp quy trình quản lý rác thải và kiểm soát ô nhiễm không khí nội bộ hoàn chỉnh của một doanh nghiệp cơ khí chế tạo (Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công) thông qua hệ thống quy chuẩn QĐ/24-001, các biểu mẫu giám sát BM/04-000-010b, kế hoạch quan trắc định kỳ 2 lần/năm và quy định kiểm soát đơn vị xử lý thuê ngoài.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Khóa luận giới hạn việc khảo sát thực tiễn tại một doanh nghiệp duy nhất thuộc ngành cơ khí chế tạo (Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công), chưa mở rộng phạm vi khảo sát liên ngành hoặc so sánh với các loại hình phát thải công nghiệp khác (như nhiệt điện, luyện kim, xi măng). Bên cạnh đó, phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đối với cộng đồng dân cư xung quanh và các cơ quan quản lý mới dừng ở mức dự kiến, chưa thể hiện số liệu phân tích định lượng xã hội học chuyên sâu trong văn bản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    1. Nghiên cứu phương pháp luận và xây dựng bộ tiêu chí định lượng bồi thường thiệt hại đối với môi trường không khí để hoàn thiện văn bản thay thế Nghị định số 03/2015/NĐ-CP.
    2. Nghiên cứu cơ chế kiểm soát khí thải từ nguồn di động, đặc biệt là lộ trình thu hồi và loại bỏ phương tiện giao thông cũ nát tại các đô thị lớn.
    3. Hoàn thiện khung khổ pháp lý cho việc áp dụng các công cụ kinh tế mới như thị trường trao đổi hạn ngạch phát thải khí thải và cơ chế tính phí bảo vệ môi trường đối với khí thải công nghiệp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật Kinh tế và Luật Môi trường: Tài liệu cung cấp góc nhìn tổng quan về tiến trình phát triển của Luật Bảo vệ môi trường qua các thời kỳ (1993, 2005, 2014, 2020), làm rõ cách phân tích cấu trúc điều luật và chỉ ra sự mâu thuẫn giữa luật thực định với thực tiễn áp dụng chế tài hành chính, hình sự.
  • Bộ phận An toàn - Môi trường (HSE) tại các doanh nghiệp công nghiệp: Phần nghiên cứu thực tiễn tại Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công cung cấp mô hình mẫu về việc ban hành quy chế nội bộ (QĐ/24-001), phân loại nguồn thải, lập hồ sơ quản lý bằng biểu mẫu định kỳ, và quy trình lựa chọn, giám sát các nhà thầu xử lý chất thải nguy hại.
  • Cán bộ quản lý nhà nước về môi trường: Cung cấp nguồn cứ liệu thực tế về các bất cập trong thanh tra môi trường, cơ chế tiếp cận thông tin quan trắc của người dân và khoảng trống trong các quy chuẩn kỹ thuật hiện hành.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận chỉ ra sự khác biệt về nguồn phát thải bụi mịn PM2.5 giữa Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh như thế nào? Tại Thành phố Hồ Chí Minh, giao thông đường bộ là nguồn phát thải lớn nhất, chiếm 58,2%, kế đến là hoạt động công nghiệp (22,8%) và đun nấu (12,8%). Ngược lại, tại Hà Nội, hoạt động công nghiệp và làng nghề là nguồn phát thải cao nhất, chiếm 48,3%, giao thông đứng thứ hai với 21,3%, theo sau là đốt phụ phẩm nông nghiệp chiếm tới 20,2%, đun nấu chiếm 6,6% và các nguồn khác chiếm 3,6%.

2. Mức xử phạt vi phạm hành chính tối đa đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường hiện nay là bao nhiêu? Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, mức xử phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của tổ chức là 2 tỷ đồng, và đối với cá nhân là 1 tỷ đồng.

3. Vì sao đến nay chưa có cá nhân nào bị xử lý hình sự về tội gây ô nhiễm môi trường không khí theo Bộ luật Hình sự? Theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009), tội gây ô nhiễm môi trường có cấu thành vật chất, đòi hỏi phải chứng minh hậu quả nghiêm trọng xảy ra, điều này gần như không khả thi do đặc tính khuếch tán nhanh của không khí và khó chứng minh mối quan hệ nhân quả. Khi chuyển sang Bộ luật Hình sự năm 2015, dù tội danh chuyển sang cấu thành hình thức nhưng điều luật lại yêu cầu hành vi xả thải phải đạt ngưỡng tải lượng nhất định, việc giám định tải lượng khí thải thực tế rất phức tạp; đồng thời luật chưa bao quát hành vi gây ô nhiễm mùi, dẫn đến khó khăn trong khởi tố, truy cứu.

4. Kết quả xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg đạt được những con số nào? Tính đến thời điểm báo cáo của Tổng cục Môi trường được trích dẫn, đã có 370/435 cơ sở hoàn thành xử lý triệt để (đạt tỷ lệ 85%). Cả nước còn 65 cơ sở tồn đọng (gồm 5 cơ sở sản xuất kinh doanh, 1 khu công nghiệp, 6 chợ, 3 lò mổ, 6 bệnh viện, 39 bãi rác, 5 cơ sở giáo dục, lao động xã hội). Có 35/50 địa phương xử lý đạt trên 70% và 24/50 địa phương hoàn thành 100% kế hoạch.

5. Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công tổ chức đo đạc chất lượng không khí và lưu giữ chất thải nguy hại theo quy định nào? Công ty thực hiện theo Quy định QĐ/24-001 (sửa đổi ngày 01/7/2021). Theo đó, định kỳ vào cuối tháng 6 và cuối tháng 12 hàng năm, công ty tổ chức quan trắc, đo và đánh giá nồng độ chất lượng không khí, cập nhật vào các biểu mẫu BM/24-001-001 và BM/24-001-002 để báo cáo Giám đốc. Đối với chất thải nguy hại, công ty chuyển về kho tập kết và thuê đơn vị có giấy phép đến vận chuyển xử lý, thời gian lưu giữ tại kho của công ty nghiêm ngặt không được vượt quá 6 tháng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Hoàng Dũng đã cung cấp một bức tranh toàn diện và có căn cứ xác thực về khung pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí tại Việt Nam theo tinh thần Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Nghiên cứu đã chỉ ra sự chênh lệch lớn giữa yêu cầu quản lý thực tiễn với hệ thống quy chuẩn kỹ thuật lạc hậu, các lỗ hổng trong công tác thẩm định ĐTM và hạn chế của các chế tài xử lý vi phạm hành chính, hình sự. Đồng thời, qua việc phân tích thực tế áp dụng quy trình kiểm soát chất thải tại Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công, khóa luận đóng góp nguồn dữ liệu thực chứng hữu ích phục vụ cho công tác nghiên cứu học thuật và xây dựng chính sách pháp luật môi trường.