Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC VÀ THAM GIA HỘI CHỢ THƯƠNG MẠI CỦA THƯƠNG NHÂN VÀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC VÀ THAM GIA HỘI CHỢ THƯƠNG MẠI CỦA THƯƠNG NHÂN 1. Lý luận về kiểm soát hoạt động tổ chức và tham gia hội chợ thương mại của thương nhân 1. Khái quát về hoạt động tổ chức và tham gia hội chợ thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm về hội chợ thương mại Kể từ những năm 1950, hội chợ thương mại đã trở thành một phương thức phổ biến để quảng bá sản phẩm mới trong và ngoài nước.
Các doanh nghiệp có ý định thành lập trên các thị trường mới thường sử dụng các hội chợ thương mại như một nền tảng để thiết lập các mối quan hệ và dùng để phổ biến, quảng bá các sản phẩm mới. Hội chợ thương mại thu hút các chuyên gia chủ chốt từ một ngành cụ thể và cho phép các doanh nghiệp gặp gỡ khách hàng, nhà cung cấp và đối tác có liên quan12. Các sự kiện hội chợ thương mại bao gồm chủ yếu bốn bên: Các nhà tổ chức hội chợ thương mại, là các công ty lập kế hoạch, tổ chức, giám sát và tổ chức hội chợ; các nhà triển lãm trưng bày các sản phẩm và dịch vụ trên gian hàng của họ và sử dụng dịch vụ của các nhà tổ chức triển lãm thương mại; khách tham dự hội chợ để quan sát sản phẩm, dịch vụ trưng bày; và chính quyền địa phương hoặc khu vực, thường sở hữu cổ phần trong các công ty tổ chức hội chợ thương mại nhằm kích thích phát triển kinh tế và thương mại khu vực13. Hội chợ thương mại hiện đại tập trung vào một ngành hoặc thương mại cụ thể và giúp những người tham gia có thể xác định xu hướng, sản phẩm và thách thức của ngành công nghiệp.
Ngoài các cuộc triển lãm, hội chợ thương mại còn tổ chức các hội nghị, hội thảo và hội thảo nơi các diễn viên, nhà nghiên cứu và chuyên gia có ảnh hưởng thảo luận về các vấn đề được lựa chọn của ngành. Những sự kiện này cho phép 12 Schjønsby, Håkon (2009), Trade fairs and transfer of knowledge – Green energy and home design on display, p.1, xem tại: http://esst.eu/wp-content/uploads/Thesis_Hakon.pdf, truy cập ngày 26/4/2023 13 Kirchgeorg, M. Stoeck (2005), Trade Show Management: Planning, Implementing and Controlling of Trade Shows, Conventions and Events, Gabler Verlag, Wiesbaden, p.35 9 những người chủ chốt từ các ngành gặp gỡ trực tiếp và tương tác với nhau. Do đó, có thể lập luận rằng hội chợ thương mại là một nguồn đổi mới cho các doanh nghiệp.
Theo thống kê từ báo cáo của Eurostats về đổi mới ở châu Âu từ năm 2004, các hội chợ thương mại chiếm 17% trong ngành và 14% trong lĩnh vực dịch vụ trong số các nguồn thông tin mà các doanh nghiệp coi là quan trọng để đổi mới14. Vậy, hiểu thế nào là hội chợ thương mại? Theo Thông tư số 05/TM-XNK của Bộ Thương mại ngày 25/2/1995, hướng dẫn về thực hiện quy chế thủ tục về hội chợ và triển lãm thì kinh doanh dịch vụ hội chợ và triển lãm thương mại còn được hiểu là hoạt động của doanh nghiệp nhằm tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại, bao gồm: giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại với khách hàng trong nước và/ hoặc khách hàng nước ngoài; và tổ chức thực hiện hợp đồng đã ký (quảng cáo, mời khách, thiết kế, cho thuê gian hàng, làm thủ tục hàng hoá, trưng bầy, hội thảo chuyên đề trong hội chợ, triểm lãm, phiên dịch., và các công việc khác có liên quan đến hội chợ, triểm lãm thương mại)15. Theo Luật Thương mại năm 2005 quy định thì hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ16. Có thể lịch sử phát triển và được giải thích khác nhau, nhưng hiểu một cách khái quát thì hội chợ thương mại là nơi trưng bày, giới thiệu hàng hóa và dịch vụ của nhiều doanh nghiệp đến từ nhiều nơi, nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán, giữa các đối tác để ký kết hợp đồng mua bán sản phẩm, dịch vụ, mở các của hàng, đại lý; cơ hội tốt để trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, xúc tiến đầu tư, hợp tác kinh tế giữa các doanh nghiệp, các địa phương và các quốc gia.
Việc tổ chức hội chợ thường do doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hội chợ thương mại thực hiện; hoặc do một tổ chức, cơ quan, hiệp hội nào đó đứng ra tổ chức nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp xúc tiến ký 14 Eurostat, 2004, [online], Innovation in Europe: Results from EU, Iceland and Norway, Office for Official publications in the European communities, Luxembourg, p.25, xem tại: http://epp.eu/portal/page?_pageid=1073,46587259&_dad=portal&_schema=PORTAL&p_pro duct_code=KS-59-04-257, truy cập ngày 26/4/2023 15 Thông tư số 05/TM-XNK của Bộ Thương mại ngày 25/2/1995 hướng dẫn về thực hiện quy chế thủ tục về hội chợ và triển lãm. 16 Điều 129 Luật Thương mại năm 2005. 10 kết hợp đồng tiêu thụ hàng hoá. Thông thường, các cơ quan này là cơ quan xúc tiến thương mại của quốc gia hay địa phương, dùng ngân sách hay quỹ để hỗ trợ.
Như Nhật Bản là Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO)17 hay tại Australia là Cơ quan Thương mại và Đầu tư (AUSTRADE)18, tại Việt Nam là Cục Xúc tiến Thương mại thuộc Bộ Công Thương (VIETRADE). Nhìn chung, hiện nay chưa có một cách hiểu thống nhất về hội chợ thương mại. Song, qua việc nghiên cứu các nội dung trên, có thể hiểu: Hội chợ thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại, được thực hiện tập trung tại một địa điểm nhất định, trong một thời gian nhất định, để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội trao đổi, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Có thể thấy, hội chợ thương mại chính là một trong các hoạt động xúc tiến thương mại, đều là hoạt động nhằm mục đích xúc tiến việc mua bán, trao đổi hàng hóa.
Do vậy, về cơ bản hội chợ thương mại mang bản chất của hoạt động xúc tiến thương mại. Tuy vậy, hoạt động tổ chức và tham gia hội chợ thương mại có những đặc điểm khác biệt so với các hoạt động xúc tiến thương mại khác (khuyến mại, quảng cáo thương mại, triển lãm thương mại, cụ thể: Thứ nhất, so với hoạt động khuyến mại. Khuyến mại là hoạt động của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định, để từ đó tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy mạnh mẽ việc bán hàng và cung ứng dịch vụ. Lợi ích dành cho khách hàng bao gồm cả lợi ích vật chất (tiền, hàng hoá) hay lợi ích phi vật chất (được cung ứng dịch vụ miễn phí)19.
Như vậy, khuyến mại có bản chất là một cam kết đơn phương của thương nhân đối với khách hàng về việc dành cho khách hàng những lợi ích nhất định để thu hút khách hàng và qua đó dễ dàng tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ; nên chỉ cần có sự công bố chính thức của thương nhân về thể thức và nội dung khuyến mại là hành vi đó ngay lập tức có giá trị pháp lý ràng buộc đối với thương nhân. Khi khách hàng chứng minh được rằng họ có đủ điều kiện để được hưởng chính sách khuyến mại, thì thương nhân phải thực hiện đúng các cam kết của mình về nội dung khuyến mại. Trong khi đó, mục 17 Ecossun, Bình luận về tổ chức xú tiến thương mại Nhật Bản, xem tại: https://ecosunpharma.com/binh-luan-to- chuc-xuc-tien-thuong-mai-nhat-ban-jetro-la-gi/, truy cập ngày 26/4/2023 18 Xem tại: https://www.au/vietnam, truy cập ngày 26/4/2023 19 Vũ Thị Cẩm Tú (2010), Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại theo quy định Luật Cạnh tranh năm 2004, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr.14 11 tiêu của tổ chức hội chợ thương mại nhằm thực hiện tập trung khách hàng trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hóa nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ. Đồng thời, hội chợ gắn liền với mục tiêu chính là tiêu thụ sản phẩm chứ không nhưng không dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.
Bên cạnh đó, hội chợ còn là nơi tuyên truyền cho hình ảnh, nhằm truyền bá thương hiệu sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, giữa khuyến mại và tổ chức hội chợ thương có điểm chung, đều hướng đến việc tăng số lượng sản phẩm tiêu thụ, mang lại doanh thu cho doanh nghiệp. Thứ hai, so với hoạt động quảng cáo thương mại. Cả quảng cáo và hội chợ thương mại đều là hoạt động xúc tiến thương mại, nhằm giới thiệu đến khách hàng hàng hóa, dịch vụ, với mục đích là tăng mức độ trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ và tăng doanh thu.
Tuy vậy, xét về bản chất giữa chúng có những điểm khác biệt. Trong khi quảng cáo là hoạt động giới thiệu hàng hoá và dịch vụ thương mại của thương nhân thông qua các phương tiện quảng cáo như báo chí, các ấn phẩm, panô, áp phích… gây sự chú ý đến khách hàng bằng hình ảnh, tiếng nói, chữ viết20. Ngược lại, hội chợ thương mại cũng nhằm mục đích tiêu thụ, giới thiệu hàng hóa đến khách hàng nhưng bằng cách tập trung khách hàng tại một địa điểm, trong một thời gian theo đăng ký với cơ quan nhà nước. Tại địa điểm và thời gian đăng ký, thương nhân sẽ tiến hành trưng bày, giới thiệu hàng hóa, sản phẩm để nhằm thu hút khách hàng tiêu thu hàng hóa.
Thứ ba, so với hoạt động triễn lãm thương mại. Trên thực tế, đã có cách hiểu nhầm lẫn giữa hội chợ thương mại và triễn lãm thương mại. Có thể thấy, đây đều là những hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hóa nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ. Tuy nhiên, hội chợ gắn liền với mục tiêu chính là tiêu thụ sản phẩm chứ không chỉ đơn thuần tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm.
Bên cạnh đó còn có thể tuyên truyền cho hình ảnh, nhằm truyền bá thương hiệu sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Kết quả của hội chợ thương mại là số lượng sản phẩm tiêu thụ lớn, giá bán có lợi cho doanh nghiệp, mang lại doanh thu cho doanh nghiệp.