Chương 1: Một số lý luận chung về nhượng quyền thương mại và pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại Chương 2: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam Chương 3: Thực tiễn áp dụng hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam. Một số đánh giá và kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng quyền thương mại. 3 z CHƢƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về nhƣợng quyền thƣơng mại 1.
Lịch sử phát triển của nhƣợng quyền thƣơng mại Dù Việt Nam mới biết đến NQTM cách đây hơn 20 năm, nhưng khái niệm này đã trở lên phổ biến và có lịch sử phát triển khá lâu đời trên thế giới. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức sơ khai của lối kinh doanh nhượng quyền đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ 17-18 tại Châu Âu. Tuy nhiên, nhượng quyền thương mại được chính thức thừa nhận khởi nguồn, phát triển là tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ 19, khi mà Nhà máy Singer (sản xuất máy khâu) ký kết hợp đồng nhượng quyền kinh doanh đầu tiên cho đối tác của mình. Trước thế chiến thứ 2, NQTM phát triển ồ ạt trong các trạm xăng dầu và gara buôn bán xe hơi, về thực chất đây chỉ là hình thức nhượng quyền phân phối sản phẩm.
Các đại lý xăng dầu hay gara xe hơi được cấp giấy phép dưới tên một thương hiệu nào đó, tuy nhiên họ không phải trả khoản phí nhượng quyền nào. Điều kiện duy nhất để các đại lý được hoạt động là phải mua sản phẩm độc quyền cung cấp bởi chủ thương hiệu mà thôi. NQTM thực sự phát triển mạnh, bùng phát kể từ sau năm 1945 (khi Thế chiến thứ 2 kết thúc), với sự ra đời của hàng loạt hệ thống nhà hàng, khách sạn và các hệ thống kinh doanh, phân phối theo kiểu bán lẻ, mà sự đồng nhất về cơ sở hạ tầng, thương hiệu, sự phục vụ là đặc trưng cơ bản để nhận dạng những hệ thống kinh doanh theo phương thức này. Từ những năm 60, NQTM 4 z trở thành phương thức kinh doanh thịnh hành, thành công không chỉ tại Hoa Kỳ mà còn ở những nước phát triển khác như Anh, Pháp….
Sự lớn mạnh của những tập đoàn xuyên quốc gia của Hoa Kỳ và một số nước Châu Âu trong lĩnh vực kinh doanh thức ăn nhanh, khách sạn - nhà hàng đã góp phần "truyền bá" và phát triển NQTM trên khắp thế giới. Ngày nay, NQTM đã có mặt tại hơn 150 nước trên thế giới, riêng tại Châu Âu có khoảng 200 ngàn cửa hàng kinh doanh theo phương thức nhượng quyền. Nhận thấy lợi ích, hiệu quả của của phương thức kinh doanh này, nhiều quốc gia đã có các chính sách khuyến khích phát triển NQTM. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên luật hoá NQTM và có các chính sách ưu đãi cho những cá nhân, doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức NQTM.
Chính phủ các nước phát triển khác như Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật… cũng noi gương Hoa Kỳ, ban hành các chính sách thúc đẩy phát triển hoạt động NQTM, khuyến khích và hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc NQTM ra nước ngoài. Với những ưu điểm vượt trội, NQTM trở thành một phương thức kinh doanh mang lại hiệu quả cao và tạo thành làn sóng kinh doanh mạnh mẽ trên toàn thế giới. Ngày nay, nhiều tổ chức phi chính phủ với tôn chỉ thúc đẩy phát triển, hỗ trợ và quảng bá hoạt động nhượng quyền đã được thành lập. Điển hình là Hội đồng nhượng quyền Thế giới (World Franchise Council), ra đời vào năm 1994, có thành viên là các hiệp hội nhượng quyền của nhiều quốc gia.
Ngoài ra, một tổ chức uy tín và lâu đời nhất là Hiệp hội nhượng quyền Quốc tế (International Franchise Association) được thành lập năm 1960 có khoảng 30.000 thành viên bao gồm các doanh nghiệp bán, mua, nhượng quyền. Khái niệm NQTM mới xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay có khoảng hơn 200 hệ thống nhượng quyền nhưng hoạt động này đã từng bước 5 z khẳng định vai trò của mình đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam [5]. Giờ đây người tiêu dùng đã quen thuộc với các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới như KFC, Dimal, Qualitea,… cho đến nay một số thương nhân Việt Nam đã kinh doanh khá thành công theo mô hình này ( điển hình là cà phê Trung Nguyên, Phở 24 và Bakerry Kinh Đô), và các doanh nghiệp có tiềm năng khác cũng đang khẩn trương chuẩn bị để chuyển nhượng quyền thương mại. Khái niệm này cũng đã được các trường đại học về kinh tế đưa vào giảng dạy chính thức, nhiều buổi hội thảo do các doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền đã được tổ chứ hàng năm, mới đây nhất là hội chợ triển lãm về frachise tổ chức bởi Văn phòng đại diện Cục Xúc tiến thương mại (Viettrade) tại thành phố Hồ Chí Minh với chủ đề: "Nhượng quyền thương mại - Xu hướng phát triển mới, cơ hội và tiềm năng" ngày 11/05/2012, Hội thảo "nhượng quyền thương mại - Bài học từ người trong cuộc" do Báo Doanh nhân Sài Gòn tổ chức ngày 28/06/2012; … nhằm trao đổi kinh nghiệm giữa các thương nhân.
Mặt khác theo đánh giá của các chuyên gia, hiện nay Việt Nam đã gia nhập WTO thì NQTM sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bùng nổ, cũng theo họ để Việt Nam có thể hội nhập kinh tế thế giới một cách nhanh chóng thì NQTM là con đường tốt nhất và rất phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay. Khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của nhƣợng quyền thƣơng mại 1. Khái niệm nhượng quyền thương mại Tuy có lịch sử phát triển lâu dài nhưng đến nay trên thế giới vẫn chưa có khái niệm thống nhất về NQTM. Mỗi quốc gia đưa ra khái niệm khác nhau phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và quan điểm lập pháp của nước mình.
Định nghĩa của Uỷ ban thương mại Liên minh Hoa Kỳ nhấn mạnh tới việc 6 z bên giao quyền kinh doanh hỗ trợ và kiểm soát bên nhận trong hoạt động kinh doanh, theo đó hoạt động nhượng quyền thương mại được hiểu như sau: “NQTM là thoả thuận, theo đó bên nhượng quyền có trách nhiệm hỗ trợ đáng kể cho bên nhận quyền trong việc điều hành doanh nghiệp và kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của bên nhận quyền. Đồng thời bên nhượng quyền phải lisence nhãn hiệu cho bên nhận quyền để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu hàng hoá của bên nhượng và yêu cầu bên nhận thanh toán một khoản phí tối thiểu" [2]. Theo hiệp hội NQTM quốc tế (IFA) thì: "NQTM là mối quan hệ theo hợp đồng giữa bên giao và bên nhận, theo đó bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của bên nhận trên các khía cạnh như bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên. Bên nhận quyền hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hoá, phương thức, phương pháp kinh doanh do bên giao sở hữu hoặc kiểm soát và bên nhận quyền đang và sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng nguồn lực của mình." [2] Theo định nghĩa này vai trò của bên nhận quyền kinh doanh trong việc đầu tư vốn và điều hành doanh nghiệp được đặc biệt nhấn mạnh hơn so với trách nhiệm của bên giao quyền.
Liên minh Châu Âu định nghĩa: "NQTM là tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bí quyết hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng". [2] Như vậy có thể hiểu cách tiếp cận của Liên minh Châu Âu là việc nhấn mạnh quyền của bên nhận quyền khi sử dụng tập hợp các quyền sở hữu trí tuệ. Định nghĩa của Australia là định nghĩa khá toàn diện về NQTM, ngoài ra việc chỉ ra các đặc điểm đặc trưng khái quát lên bản chất của NQTM còn chỉ 7 z ra được một quy trình khá chi tiết và đầy đủ của hoạt động NQTM. Định nghĩa đó như sau: “NQTM là thoả thuận một bên (bên nhượng quyền) cấp cho bên khác (bên nhận quyền) thực hiện hoạt động đề nghị giao kết hợp đồng, cung cấp hoặc phân phối hàng hoá hoặc dịch vụ trong lãnh thổ Australia theo hệ thống hoặc kế hoạch kinh doanh mà cơ bản được xác định kiểm soát hoặc đề xuất bởi bên nhượng quyền, theo đó: Việc tiến hành hoạt động kinh doanh được chủ yếu gắn liền với thương hiệu, hoạt động quảng cáo hoặc biểu tượng thương mại của bên nhượng quyền.
Trước khi bắt đầu kinh doanh và trong quá trình kinh doanh, bên nhận quyền phải thanh toán cho bên nhượng quyền một khoản chi phí NQTM" [2]. Đối với Việt Nam khái niệm nhượng quyền thương mại lần đầu tiên được đề cập đến trong pháp luật tại Điều 284 Luật thương mại 2005, theo quan điểm các nhà làm luật thì: "NQTM là hoạt động thương mại theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau: 1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.
Qua các định nghĩa trên ta có thể thấy mặc dù quan điểm của các quốc gia về nhượng quyền thương mại là khác nhau nhưng tất cả các định nghĩa trên đều có đặc điểm chung là: 8 z • Bên nhận quyền phân phối sản phẩm, cung ứng dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hoá, các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ và theo quy trình kỹ thuật do bên nhượng quyền xây dựng và sở hữu • Bên nhận quyền phải trả một khoản phí và chấp nhận các điều kiện do bên nhượng quyền quy định (các quy định về tiêu chuẩn hàng hoá, giá sản phẩm, cách bài trí cửa hàng, cung cách phục vụ của nhân viên) 1.