Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoàn thuế thu nhập cá nhân và pháp luật về hoàn thuế thu nhập cá nhân. Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoàn thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lào Cai. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam. 14 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.
Những vấn đề lý luận về hoàn thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân và hoàn thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân Để hiểu đúng về bản chất của khái niệm hoàn thuế thu nhập cá nhân, trước hết cần làm rõ khái niệm thuế TNCN là gì. Trong khoa học kinh tế, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần phát sinh thu nhập.
Loại thuế này thường được áp dụng đối với một số khoản thu nhập cao và hợp pháp của cá nhân nhằm thực hiện việc điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, góp phần thực hiện công bằng xã hội và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Trong khoa học pháp lý, khái niệm thuế TNCN cũng được hiểu và giải thích không hoàn toàn giống nhau. Chẳng hạn, tác giả Phạm Thị Giang Thu (2008) cho rằng: “Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào những người có thu nhập cao, bao gồm công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nước ngoài có thu nhập, cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng định cư không thời hạn Việt Nam có thu nhập và người ngoài có thu nhập tại Việt Nam”. Trong khi đó, tác giả Nguyễn Thị Liên (2009) đưa ra khái niệm: “Thuế TNCN là sắc thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cá nhân phát sinh trong kỳ tính thuế”.
Hay tác giả Huỳnh Văn Diện (2016) định nghĩa: “Thuế TNCN là loại thuế đánh vào thu nhập của cá nhân do Nhà nước ban hành thành luật và đảm bảo thực thi bằng sức mạnh của Nhà nước”. 15 Từ các định nghĩa nêu trên, tác giả luận văn cho rằng có thể đưa ra khái niệm thuế TNCN như sau: Thuế thu nhập cá nhân là khoản tiền mà cá nhân có thu nhập chịu thuế phát sinh trong kỳ tính thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Xét về bản chất, thuế TNCN là loại thuế trực thu được xây dựng dựa trên nguyên tắc công bằng và dựa vào khả năng đóng thuế của người nộp thuế. Điều đó có nghĩa là, thuế thu nhập cá nhân có mục tiêu góp phần điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, nhờ đó làm giảm hợp lý khoảng cách chênh lệch giữa những người giàu với người nghèo trong xã hội.
Với tư cách là một trong hai loại thuế trực thu điển hình, thuế TNCN có những đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, về bản chất kinh tế của thuế thu nhập cá nhân. Giống như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế TNCN có bản chất là thuế trực thu, theo đó nhà nước sẽ trực tiếp thu một phần thu nhập của người nộp thuế và đưa vào ngân sách nhà nước để sử dụng cho các n hu cầu thi tiêu của Nhà nước. Vì vậy, người nộp thuế không thể chuyển giao các khoản thuế của mình sang cho người khác. Thứ hai, về chủ thể nộp thuế thu nhập cá nhân.
Như tên gọi của nó, thuế thu nhập cá nhân có chủ thể nọp thuế chính là cá nhân có thu nhập chịu thuế phát sinh trong kỳ tính thuế. Loại thuế này có chủ thể nộp thuế không giống với thuế thu nhập doanh nghiệp (vốn dĩ chủ thể nộp thuế này là doanh nghiệp), mặc dù cả hai loại thuế này đều có bản chất là thuế trực thu. Do chủ thể nộp thuế là cá nhân nên vấn đề xác định thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế cũng có điểm khác biệt so với thuế thu nhập doanh nghiệp, đó là việc áp dụng chế độ giảm trừ gia cảnh đối với chủ thể nộp thuế thu nhập cá nhân, trong khi chế độ này không được áp dụng đối với 16 chủ thể nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Thứ ba, về đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân.
Mặc dù cùng có đối tượng chịu thuế là thu nhập nhưng thuế thu nhập cá nhân chỉ áp dụng đối với phần thu nhập của mỗi cá nhân vượt trên mức khởi điểm chịu thuế theo quy định của pháp luật. Điều này có nghĩa là, đối với cá nhân có thu nhập hàng tháng dưới mức khởi điểm chịu thuế thì sẽ không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, trong khi đó, nếu là doanh nghiệp thì chủ thể này phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp ngay từ đồng thu nhập đầu tiên của doanh nghiệp phát sinh trong kỳ tính thuế. Ngoài ra, đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân cũng rất đa dạng và tương đối khác biệt so với đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, chẳng hạn như khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân… Thứ tư, về nguyên tắc xác định thu nhập tính thuế của cá nhân. Như đã đề cập ở trên, thu nhập tính thuế của cá nhân được xác định theo nguyên tắc lấy thu nhập chịu thuế trừ đi các khoản được giảm trừ theo quy định của pháp luật (ví dụ, giảm trừ gia cảnh, giảm trừ bảo hiểm…).
Điều này cho thấy rằng đối với thuế thu nhập cá nhân, Nhà nước không đánh thuế trên toàn bộ thu nhập của cá nhân mà chỉ đánh thuế trên phần thu nhập vượt quá mức khởi điểm tính thuế và đã giảm trừ đi một số khoản thu nhập khác theo quy định để từ đó giảm gánh nặng về thuế cho mỗi cá nhân người nộp thuế. Ngoài ra, việc đánh thuế thu nhập cá nhân còn áp dụng biểu thuế suất lũy tiến từng phần đối với loại thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh của cá nhân. Điều này có nghĩa là, Nhà nước sẽ áp dụng các thuế suất tăng dần đối với các bậc thu nhập của cá nhân, theo nguyên tắc thu nhập càng cao thì thuế suất càng cao và ngược lại. Khái niệm, đặc điểm của hoàn thuế thu nhập cá nhân Trên thế giới, hoàn thuế là hiện tượng bình thường diễn ra trong đời 17 sống kinh tế, xã hội khi người nộp thuế đã nộp thừa cho Nhà nước số tiền thuế mà đáng lẽ họ không phải nộp.
Trên nguyên tắc, việc hoàn thuế có thể diễn ra ở bất kỳ loại thuế nào bao gồm thuế trực thu và thuế gián thu, nếu có trường hợp Nhà nước đã thu của người nộp thuế số tiền thuế mà đáng lẽ họ không phải nộp theo quy định của pháp luật. Xét về bản chất, hoàn thuế là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu thuế, theo đó cơ quan này ra quyết định trả lại số tiền thuế đã thu trước đó của người nộp thuế (doanh nghiệp hoặc cá nhân), lý do là khoản thuế này bị cơ quan thuế thu sai hoặc do người nộp thuế đã nộp vượt quá mức thuế cần phải nộp so với quy định của pháp luật hiện hành về thuế. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “hoàn thuế” tuy được giải thích tương đối khác nhau ở các quốc gia, nhưng các cách hiểu này đều thống nhất với nhau ở vấn đề xác định bản chất của việc hoàn thuế. Tại Hoa Kỳ, hoàn thuế (Tax Refund) là việc chính phủ hoàn lại khoản tiền cho một cá nhân hoặc hộ gia đình khi khoản thuế thực tế đáng lẽ phải nộp thấp hơn tổng số tiền thuế đã nộp trong năm tính thuế1.
Đối với thuế thu nhập ở Hoa Kỳ, hoàn lại tiền thuế là sự trả lại số thuế thu nhập thừa mà người đóng thuế đã trả cho chính phủ tiểu bang hoặc liên bang trong năm qua. Tại Hoa Kỳ, hầu hết mọi người nhận được tiền hoàn thuế thu nhập trong năm. Các khoản tiền hoàn lại này có thể được phát hành dưới hình thức séc cá nhân, trái phiếu tiết kiệm của Hoa Kỳ hoặc tiền gửi trực tiếp vào tài khoản ngân hàng của người nộp thuế. Hầu hết các khoản tiền hoàn lại được phát hành trong vòng vài tuần kể từ ngày người nộp thuế nộp thuế thu nhập hàng năm của họ2.
Ở Việt Nam, trước năm 1975 dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa, vấn đề hoàn thuế cũng đã được ghi nhận trong các sắc luật về thuế do Tổng thống 1 Định nghĩa này được trích dẫn bởi nguồn: https://www.com/terms/t/tax-refund. 2 Thông tin này được trích dẫn bởi nguồn: https://www.com/terms/t/tax-refund. 18 Việt Nam Cộng Hòa ban hành để thực hiện trong vùng lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa như Sắc luật số 012-TT/SLU ngày 14/12/1972 quy định thuế lợi tức, Sắc luật số 035-TT/SLU ngày 21/12/1972 quy định thuế giá trị gia tăng, Sắc luật số 036-TT/SLU ngày 22/12/1972 quy định thuế tiêu thụ đặc biệt. Tuy nhiên, các sắc luật này không sử dụng thuật ngữ “hoàn thuế” như hiện nay mà thay vào đó là sử dụng thuật ngữ “bồi hoàn thuế”, trong đó quy định nguyên tắc bồi hoàn thuế và các điều kiện bồi hoàn thuế3.
Trong pháp luật thực định Việt Nam hiện tại, nhà làm luật chủ trương không đưa ra định nghĩa chính thức về thuật ngữ “hoàn thuế” mà chỉ quy định các trường hợp được hoàn thuế theo Luật quản lý thuế 2019, theo đó ghi nhận: “1. Cơ quan quản lý thuế thực hiện hoàn thuế đối với tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Cơ quan thuế hoàn trả tiền nộp thừa đối với trường hợp người nộp thuế có số tiền đã nộp ngân sách nhà nước lớn hơn số phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 60 của Luật này” (Luật Quản lý thuế 2019 – chú thích của tác giả). Rõ ràng, sự thiếu vắng một định nghĩa chính thức về thuật ngữ “hoàn thuế” trong pháp luật thực định hiện nay đã khiến cho việc hiểu đúng về bản chất của hoàn thuế và giải thích khái niệm hoàn thuế trở nên khó khăn, thiếu sự thống nhất, từ đó dẫn đến việc các nhà làm luật có thể thiết kế các quy định không phù hợp với bản chất của hoàn thuế nói chung4.