Chương 1: Những van dé lý luận về giao kết, thực hiện hợp đồng ủy thác xuất nhập khâu hang hóa va lý luận pháp luật vé giao kết, thực hiện hop đồng ủy thác xuất nhập khâu hang hóa Chương 2: Thực trạng pháp luật vé giao kết, thực hiện hợp đồng ủy thác xuất, nhập khẩu hang hóa ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu qua thực hiện pháp luật vé giao kết, thực hiện hop đồng ủy thác xuất, nhập khẩu hang hóa ở Việt Nam CHƯƠNG1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE GIAO KET, THỰC HIỆN HOP BONG UY THÁC XUẤT NHẬP KHẨU HANG HÓA VA PHAP LUẬT VE GIAO KET, THỰC HIỆN HỢP BONG ỦY THÁC XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 1. Khái quát về hợp đông ủy thác xuất, nhập khẩu hàng hóa và giao kết, thực hiện hợp đồng ủy thác xuất, nhập khâu hàng hóa 1. Khái niệm, đặc diém hợp đông ty thác xuất, nhập khan hàng hóa 11.11 Khải niệm về hợp đồng ty thác xuất, nhập khẩu hừng hóa Trong thời đại toàn câu hóa, khi nên kinh tế càng phát triển, xã hội cảng văn minh thì chế định hop đồng càng được coi trong và hoản thiên. Có được kết luận này là bởi khi giao thương phát triển, trao đổi hàng hoá sẽ không còn chỉ diễn ra trong phạm vi vùng hay lãnh thé ma đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia và trở thành động lực chính cho su ra đời của mua bán hàng hóa quốc tế, trong đó có xuất, nhập khẩu hang hóa.
Về mặt định nghĩa, mỗi một hệ thống pháp luật khác nhau lại có những quan niệm khác nhau đối với khái niệm hop đồng Tuy nhiên, hau hết pháp luật các nước đều thừa nhận một điêu cốt lối của hợp đông là sư thoả thuận có nguôn gốc căn ban là sự thông nhật về ý chí, nên tang pháp ly cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đông thực hiện các quyên, nghĩa vụ đã đê ra. Từ những nên tảng đó, bản chất môi tương quan giữa hợp đồng xuất, nhập khẩu hang hóa cũng như hợp đồng thông thường là sự thỏa thuận giữa các chủ thé nhằm xác lập, thay đối hoặc cham đứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cu thé. Như vậy, có thé thay, hợp đông xuất, nhập khẩu hang hóa thực chất là một hop dong mua bán quốc tế, là sự théa thuận giữa các bên mua bán ở các nước khác nhau trong đó quy định bên bán phải cung cấp hàng hóa, chuyển giao các chứng từ có liên quan đến hảng hóa và quyền sở hữu hàng hóa, bên mua phải thanh toán tiên hảng và nhận hảng Theo quy định tại Điêu 155 Luật Thương mại 2005, “uy thác mua bán hang hoa” là hoạt động thương mai, theo đó bên nhân uy thác thực hiện việc mua ban hang hoá với danh nghĩa của minh theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uy thác và được nhận thù lao uy thác Theo quy định tại Điều 28 Luật Thương mại 2005 về xuất khâu, nhập khẩu hàng hóa cụ thé như sau: “Xuat khẩu hang hóa là việc hàng hoa được đưa ra khỏi lãnh thé Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thd Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Nhập khẩu hảng hóa lả việc hàng hoá được đưa vào lãnh thô Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thô Việt Nam được coi lả khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Dựa theo những phân tích ở trên, có thé thay, ban chat của ủy thác xuất, nhập khẩu hang hóa cũng tương tự như ủy thác mua bán hang hoa và là một loại quan hệ hợp đông.
Cu thể, trong mỗi quan hệ nay thì các quyền, nghĩa vụ sẽ liên quan đến công việc mua bán hang hóa, được tiên hành trên cơ sở thoả thuận uỷ thác giữa hai bên, bên uỷ thác và bên nhân uỷ thác. Về định nghĩa, tuy Luật Thương mại 2005 không nêu cụ thể, song hợp đồng ủy thác xuất, nhập khẩu lại biểu hiện day đủ các yếu tổ của một hợp đồng dịch vụ (Điều 513 Bộ Luật Dân sự 2015). Uỷ thác xuất, nhập khâu hang hóa mang bản chất của uy quyền nhưng không đồng nhất với uy quyền bởi bên nhân uy thác không nhân danh người chủ uy quyên va vi thé không phải uy quyên dân sự trong thương mại. Hợp dong ủy thác xuất, nhập khẩu hàng hoa la một dạng đặc thù của hợp đông dịch vụ bởi nó đáp ứng tat cả các yêu câu của một hợp đông dich vụ, bên thuê dịch vụ thuê bên trung gian cung cap dịch vụ chuyên nghiệp nhân danh chính mình thực hiện công việc có thù lao.
Tóm lại: Hop đồng tiy thác xuắt. nhập khâm hàng hóa là sự thoä thuận giữa các bên. theo đô bên nhận up thác thực hiện công việc xuất nhập khẩu hàng hoá với danh nghia của minh theo những điều Kiện đã thoả thuận với bên uf thác và đươc nhậm tit ao up thác 1112. Đặc điểm của hợp đồng ly thác xuất, nhập khẩu hàng hóa * Về chủ thể của hop dong ủy thác xuất nhập khâu: Hợp đồng ủy thác xuất, nhập khâu mang ban chat của hợp đông dịch vụ hay hợp đông ủy thác xuất, nhập khẩu hang hóa là hợp đồng dich vụ dân sự trong thương mai.
Do dé, về phương diện chủ thé, bên nhận uy thác xuat nhập khẩu hang hóa là thương nhân được thuê dé xuất, nhập khẩu hàng hóa, được tra thủ lao theo thoa thuận vả phải dap ứng các điều kiện dé nhận xuât nhập khẩu hảng hóa cho bên ủy thác. Bên ủy thác xuất nhập khẩu hàng hóa không bắt buộc phải là thương nhân. Hợp đông ủy thác xuất, nhập khẩu hang hóa được xác lập giữa bên uy thác và bên nhận uy thác. Bên uy thác là bên giao cho bên nhận uy thác thực hiện việc xuất, nhập khẩu hang hoá theo yêu câu của mình Bên nhận uy thác, là bên thực hiện công việc được uỷ thác có thù lao.
Bởi tính chất đặc biệt của hoạt động xuất, nhập khâu nên thương nhân nhân ủy thác cân đạt những yếu tố sau: đầu tiên là về hang hóa xuât, nhập khâu. Hang hoa được uỷ thác xuất khẩu thì phải lả hang hoa có xuât xứ trong nước, phải đáp ứng các điều kiện được ban hợp pháp trên thị trường, không thuộc diện hang hoa cam hoặc han chê kinh doanh, lưu thông, xuất khẩu; phục vụ nhu câu sinh hoạt, kinh doanh hợp pháp của bên uy thác. Đối với hang hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giây phép, theo điều kiện, bên ủy thác hoặc bên nhận ủy thác phải có giây phép, đáp ứng điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu trước khi ky hợp đông ủy thác hoặc nhận ủy thác. Bên canh đó, nêu bên ủy thác không phải thương nhân, trên cơ sở hợp đông được ký kết theo quy định, bên ủy thác được ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu hang hóa, trừ hàng hóa thuộc danh mục hang hóa cam xuất khẩu, cam nhập khẩu hoặc hang hóa tam ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu.
* Vệ đôi tượng của hợp đông ủy thác xuất nhập khẩu Công việc xuất, nhập khâu hang hóa lả đối tượng đặc thù của dịch vụ dân sự trong thương mại. Khác với ủy thác mua bán hàng hóa trong nước thì đối tượng ủy thác xuất nhập khâu hang hóa 1a công việc ma bên nhận ủy thác 10 mua bán hang hóa thực hiện theo yêu cau, chỉ dẫn của bên ủy thác nhưng công việc mua bán hàng hóa này phải được dịch chuyển qua lãnh thô quốc gia Việt Nam hoặc ra vào khu vực đặc biệt (vi du khu chế xuât). Yêu tó lãnh thô và hàng rào hãi quan là những đặc điểm phân biệt giữa ủy thác mua bán hảng hóa trong nước và ủy thác xuat nhập khâu hàng hóa. Bên nhận ủy thác thực hiện hoạt đông mua bán hàng hóa cho bên ủy thác xuất, nhập khâu hang hóa trừ hang hóa thuộc danh mục hang cam xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, danh mục hang hóa cam nhập khẩu hoặc tam ngừng nhập khẩu.
Hàng hóa được mua bán theo yêu cầu của bên ủy thác lả đối tượng của hợp đông giao kết giữa bên nhận ủy thác với bên thứ ba chứ không phải đối tượng của của hợp đồng ủy thác. Bên cạnh đó, doanh nghiệp ủy thác hoặc doanh nghiệp nhân ủy thác phải có giây phép xuất khẩu, nhập khẩu trước khi ký hợp đồng ủy thác hoặc nhận ủy thác đôi với hàng hóa xuất khẩu, nhập khâu theo giây phép. * Vê nội dung của hợp đông ủy thác xuất nhập khẩu hàng hóa Hop đồng ủy thác xuat, nhập khẩu hang hóa chứa đựng các điều khoản của hop đông dich vụ, bao gôm những thoả thuận về công việc phải làm, thời hạn, thù lao. Yếu tô uy quyên được thé hiện ở nghĩa vụ thực hiện công việc của người thụ uy trong phạm vi được uy quyền vả được nhận thù lao theo thoả thuận.
Tuy nhiên, uy thác không đông nhất với uỷ quyền. Về bản chất của hảnh vi, uy quyên trong dân sự 1a hành vi giao cho người khác sử dung một số quyên ma pháp luật đã trao cho minh; uy thác trong xuất, nhập khẩu hàng hóa thực chat là ủy thác trong mua ban hang hóa, đó là hành vi giao cho người khác làm thay công việc mua bán hang hóa (xuat nhập khẩu) cho mình. Do vay, việc ủy thác sẽ không làm thay đổi ban chat về làm thủ tục hãi quan thông quan hang hóa. Khi đó, người nhận ủy thác không thé khai thuê đôi với 1ô hàng ủy thác mà chỉ khai báo thuế cho hóa đơn dịch vu ủy thác.
* Vệ tư cách pháp lý trong giao dịch với bên thứ ba H Giống với quan hệ đại điện cho thương nhân, bên nhận ủy thác phải có tư cách thương nhân và tiên hành hoạt động xuất, nhập khâu hàng hóa theo sự ủy quyên và vì lợi ích của bên ủy thác đề lây thủ lao. Nhưng khác với quan hệ đại điện cho thương nhân, bên nhận ủy thác khi giao dich với bên thứ ba sé nhân danh chính minh và những hành vi của bên nhân ủy thác sẽ mang lại hau quả pháp lí cho chính họ chứ không phải cho bên ủy thác. Về phạm vi ủy quyên, hoạt đông ủy thác xuất, nhập khẩu hang hóa chỉ có thể thực hiện hoạt động xuất, nhập khẩu hang hoá cho bên ủy thác theo thỏa thuận trong hợp đồng Trong khi đó, với đại diện cho thương nhân thì các bên có thé thoả thuận về phạm vi của việc đại điện; bên đại diện có thể thực hiện một phân hoặc toản bộ các hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đại diện.