Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa giữa các quốc gia ngày càng phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, trong thực tiễn kinh doanh, các doanh nghiệp và cá nhân Việt Nam (đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh hoặc thương nhân mới gia nhập thị trường) thường xuyên đối mặt với nhiều rào cản phức tạp. Những trở ngại này bao gồm: thiếu am hiểu về thủ tục hải quan, quy chuẩn đóng gói, bảo quản hàng hóa, phương thức vận chuyển quốc tế; hạn chế về ngoại ngữ khi đàm phán hợp đồng ngoại thương; cũng như sự thiếu hụt kinh nghiệm và độ tin cậy trong quan hệ với đối tác nước ngoài. Hoạt động ủy thác xuất nhập khẩu hàng hóa xuất hiện như một giải pháp trung gian thương mại thiết yếu, cho phép bên có nhu cầu xuất khẩu hoặc nhập khẩu thông qua một thương nhân chuyên nghiệp có đủ năng lực pháp lý và thực tế để thực hiện giao dịch, qua đó tiết kiệm chi phí đầu tư và rút ngắn thời gian lưu thông hàng hóa.

Tuy nhiên, sau hơn 19 năm thi hành, các quy định điều chỉnh hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu hàng hóa tại Luật Thương mại năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung qua Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH năm 2019) đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập, chưa hoàn toàn tương thích với thực tiễn thương mại hiện đại và còn tồn tại mâu thuẫn, thiếu đồng bộ với các đạo luật liên quan như Bộ luật Dân sự năm 2015 hay Luật Quản lý ngoại thương năm 2017.

Để giải quyết các vấn đề trên, khóa luận xác định mục đích nghiên cứu và triển khai 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu có hệ thống một số vấn đề lý luận về giao kết và thực hiện hợp đồng ủy thác xuất, nhập khẩu hàng hóa (khái niệm, đặc điểm, điều kiện hiệu lực, nội dung, nguồn luật điều chỉnh).
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và chỉ ra những hạn chế, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn áp dụng pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng ủy thác xuất, nhập khẩu tại Việt Nam.
  3. Đề xuất định hướng và các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi chế định này nhằm khắc phục các bất cập hiện hành trong hệ thống pháp luật thương mại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ giao kết, thực hiện hợp đồng ủy thác xuất, nhập khẩu hàng hóa.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các khía cạnh pháp lý của hoạt động giao kết và thực hiện hợp đồng ủy thác xuất, nhập khẩu trên cơ sở Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005 (Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH năm 2019), Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Phạm vi không gian: Thực trạng thực hiện pháp luật trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực tiễn thực hiện và áp dụng pháp luật theo dữ liệu ghi nhận từ năm 1907 đến nay (năm 2024).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận của luật tư, luật thương mại và tư pháp quốc tế, kết hợp với các văn bản quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan:

  • Hệ thống văn bản pháp luật và điều ước quốc tế:

    • Bộ luật Dân sự năm 2015: Các quy định nền tảng về hợp đồng dịch vụ (Điều 513), điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (Điều 117), trình tự giao kết (Điều 386 về đề nghị giao kết, Điều 393 về chấp nhận đề nghị giao kết), và hệ thống quy phạm xung đột pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Điều 663, 664, 668, 683).
    • Luật Thương mại năm 2005 (Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 05/07/2019): Khái niệm ủy thác mua bán hàng hóa (Điều 155), xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa (Điều 28), điều kiện thương nhân nhận ủy thác (Điều 156), hình thức hợp đồng ủy thác (Điều 159), nghĩa vụ của bên nhận ủy thác (Điều 165) và nghĩa vụ của bên ủy thác.
    • Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 (Luật số 05/2017/QH14): Quy định tại Điều 50 về điều kiện hàng hóa ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu và yêu cầu giấy phép xuất nhập khẩu.
    • Nghị định số 69/2018/NĐ-CP: Quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của thương nhân Việt Nam và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
    • Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế: Làm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các điều ước quốc tế trong thương mại.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp luận: Dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các chủ trương, chính sách quản lý hoạt động ngoại thương của Nhà nước.
    • Phương pháp quy nạp: Sử dụng tại Chương 1 để khái quát hóa và xây dựng các khái niệm, định nghĩa học thuật về hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu.
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng xuyên suốt các chương nhằm mổ xẻ các điều khoản luật thực định, phân tích các quyền, nghĩa vụ và tổng hợp các nhóm nguyên tắc, vướng mắc thực tiễn.
    • Phương pháp thống kê và xã hội học pháp luật: Sử dụng tại Chương 2 để phân tích các số liệu thực tế, các dạng tranh chấp điển hình và đánh giá tác động của quy phạm pháp luật đối với hành vi ứng xử của doanh nghiệp.
  • Nguồn dữ liệu: Các văn bản pháp luật hiện hành, các giáo trình chuyên khảo (như Luật Kinh tế của Phạm Duy Nghĩa, Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư do TS. Nguyễn Thị Dung chủ biên), các công trình nghiên cứu trước đó (Nguyễn Khánh Thu năm 2014, Võ Thanh Trúc năm 2018, Trương Thị Thùy Dương năm 2018, Đoàn Duy Bình năm 2019, Trần Viết Quyền năm 2022) và hồ sơ vụ việc tranh chấp thực tế trong ngành ngoại thương.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về giao kết, thực hiện hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu hàng hóa và pháp luật về giao kết, thực hiện hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu hàng hóa

Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận về bản chất, đặc điểm và khung pháp lý điều chỉnh hoạt động giao kết, thực hiện hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu:

  • Bản chất và định nghĩa: Khóa luận xác định hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận ủy thác thực hiện công việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa với danh nghĩa của chính mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác và được nhận thù lao ủy thác. Hợp đồng mang bản chất của hợp đồng dịch vụ có thù lao (Điều 513 BLDS 2015), có yếu tố ủy quyền nhưng không đồng nhất với ủy quyền dân sự thuần túy.
  • Sáu đặc điểm pháp lý cơ bản:
    1. Chủ thể: Bên nhận ủy thác bắt buộc phải là thương nhân có ngành nghề kinh doanh phù hợp; bên ủy thác không bắt buộc phải có tư cách thương nhân.
    2. Đối tượng: Là dịch vụ/công việc thực hiện mua bán hàng hóa dịch chuyển qua biên giới quốc gia hoặc ra/vào khu vực hải quan riêng (khu chế xuất).
    3. Nội dung: Chứa đựng các điều khoản về công việc phải làm, thời hạn, thù lao và quyền hạn xử lý công việc.
    4. Tư cách pháp lý trong giao dịch với bên thứ ba: Bên nhận ủy thác nhân danh chính mình (không nhân danh bên ủy thác) để ký kết hợp đồng ngoại thương và tự chịu trách nhiệm pháp lý trực tiếp với bên thứ ba.
    5. Phạm vi ủy thác: Bị giới hạn nghiêm ngặt trong phạm vi công việc xuất nhập khẩu cụ thể đã thỏa thuận.
    6. Hình thức hợp đồng: Bắt buộc phải lập thành văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương theo Điều 159 VBHN số 17/VBHN-VPQH.

Khóa luận so sánh phân định ủy thác xuất nhập khẩu với các hoạt động trung gian thương mại khác theo bảng tổng hợp sau:

Tiêu chí Ủy thác xuất nhập khẩu Đại diện cho thương nhân Môi giới thương mại Đại lý thương mại
Tư cách giao dịch với bên thứ ba Nhân danh chính mình Nhân danh bên giao đại diện Không nhân danh bên nào (chỉ làm trung gian chắp nối) Nhân danh chính mình hoặc nhân danh bên giao đại lý
Mức độ tham gia thực hiện hợp đồng Trực tiếp ký kết và thực hiện hợp đồng với bên thứ ba Trực tiếp thực hiện trong phạm vi được ủy quyền Hoàn toàn không tham gia vào việc thực hiện hợp đồng Trực tiếp mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ
Chủ thể thực hiện Bắt buộc là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp Bắt buộc là thương nhân Bắt buộc là thương nhân Bắt buộc là thương nhân
Phạm vi hoạt động Công việc xuất khẩu, nhập khẩu cụ thể Một phần hoặc toàn bộ hoạt động thương mại Tìm kiếm và giới thiệu đối tác thương mại Mua bán toàn bộ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ
  • Hệ thống nguồn luật và nguyên tắc chọn luật áp dụng: Nguồn điều chỉnh bao gồm điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia, án lệ và tập quán thương mại quốc tế. Theo Điều 664, 668 và 683 Bộ luật Dân sự 2015, quyền tự do chọn luật của các bên được tôn trọng; trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất (nơi người bán/người cung cấp dịch vụ cư trú hoặc thành lập); khi dẫn chiếu luật áp dụng theo thỏa thuận thì chỉ áp dụng pháp luật nội dung (không bao gồm quy phạm xung đột).
  • Quy tắc và trình tự giao kết, thực hiện: Giao kết tuân thủ 6 nguyên tắc cơ bản (tự do ý chí không trái pháp luật/đạo đức; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí; bảo đảm cam kết; bảo vệ người tiêu dùng; áp dụng tập quán; không xâm phạm lợi ích hợp pháp khác) qua 2 giai đoạn: đề nghị giao kết (Điều 386 BLDS) và chấp nhận đề nghị giao kết (Điều 393 BLDS).

Chương 2: Thực trạng pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng ủy thác xuất, nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam

Chương 2 phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật thực định, quy trình vận hành và chỉ ra những hạn chế, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn:

  • Thực trạng quy định về điều kiện chủ thể và hàng hóa:

    • Theo Điều 156 Luật Thương mại 2005 và Nghị định 69/2018/NĐ-CP, thương nhân nhận ủy thác được tự do xuất nhập khẩu các mặt hàng không thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu hoặc tạm ngừng xuất nhập khẩu mà không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh (trừ trường hợp hàng hóa xuất nhập khẩu theo giấy phép hoặc điều kiện thì các bên phải có giấy phép tương ứng).
    • Về thủ tục hải quan: Doanh nghiệp nhận ủy thác phải nộp hồ sơ gồm giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và mã số kinh doanh xuất nhập khẩu. Việc ủy thác không làm thay đổi bản chất nộp thuế: bên nhận ủy thác không kê khai thuế thay cho lô hàng mà chỉ phát hành hóa đơn giá trị gia tăng và kê khai thuế cho phí dịch vụ ủy thác.
  • Bảy nhóm vướng mắc, rủi ro điển hình khi giao kết hợp đồng:

    1. Tâm lý chủ quan, nể nang: Doanh nghiệp quá tin tưởng đối tác lâu năm hoặc đối tác lớn, dẫn đến việc thỏa thuận điều khoản trách nhiệm pháp lý lỏng lẻo.
    2. Soạn thảo sơ sài: Hợp đồng thiếu các điều khoản chi tiết về quyền hạn và nghĩa vụ ràng buộc với bên thứ ba.
    3. Ký kết vội vã do áp lực tiến độ: Bên ủy thác do cần hàng gấp nên chấp thuận các điều khoản chưa rõ ràng.
    4. Năng lực đàm phán hạn chế: Người đàm phán thiếu hiểu biết về các chế tài thương mại quốc tế và kỹ năng phòng ngừa rủi ro.
    5. Sự thiếu thiện chí và cạnh tranh không lành mạnh: Bên nhận ủy thác lợi dụng thông tin về nhà cung cấp/khách hàng của bên ủy thác để tự mình nhập khẩu hoặc trở thành đại lý độc quyền phân phối, trực tiếp chèn ép và cạnh tranh với bên ủy thác.
    6. Rào cản khác biệt về địa lý, văn hóa pháp lý: Khoảng cách địa lý và sự khác biệt về tập quán giữa các quốc gia gây khó khăn khi xử lý tranh chấp.
    7. Tranh chấp về đối tượng và giá cả: Bất đồng về quy chuẩn chất lượng, bao bì, ký mã hiệu, đơn vị tính và cơ chế điều chỉnh giá quốc tế.
  • Quy trình thực hiện nghiệp vụ và nghĩa vụ pháp lý:

    • Quy trình ủy thác xuất khẩu: Đàm phán ngoại thương $\rightarrow$ Ký hợp đồng ủy thác $\rightarrow$ Kiểm tra danh mục hàng hóa/giấy phép $\rightarrow$ Cung cấp thông tin đối tác $\rightarrow$ Lập bộ chứng từ (Hóa đơn, Danh sách đóng gói) $\rightarrow$ Chuẩn bị hàng $\rightarrow$ Đặt chỗ tàu, thông quan hải quan, nộp thuế $\rightarrow$ Phát hành vận đơn $\rightarrow$ Phát hành giấy báo nợ/hóa đơn VAT thu phí dịch vụ $\rightarrow$ Theo dõi bàn giao hàng.
    • Quy trình ủy thác nhập khẩu: Kiểm tra tính hợp pháp của hàng hóa $\rightarrow$ Xin giấy phép nhập khẩu $\rightarrow$ Làm thủ tục hải quan thông quan $\rightarrow$ Ký hợp đồng ủy thác $\rightarrow$ Bàn giao hàng và thanh quyết toán.
    • Nghĩa vụ pháp lý theo Điều 165 Luật Thương mại 2005: Bên nhận ủy thác phải tuân thủ 7 nghĩa vụ (thực hiện đúng thỏa thuận, thông báo kịp thời, tuân thủ chỉ dẫn hợp pháp, bảo quản tài sản/tài liệu, giữ bí mật thông tin, thanh toán tiền và giao hàng, liên đới chịu trách nhiệm khi có lỗi). Bên ủy thác có nghĩa vụ cung cấp thông tin, thanh toán thù lao/chi phí hợp lý và liên đới chịu trách nhiệm nếu lỗi xuất phát từ phía mình.
  • Phân tích vụ việc thực tế: Tranh chấp hợp đồng mua bán 4.000 MT thép phế liệu giữa bên mua Việt Nam (nguyên đơn) và bên bán Nhật Bản (bị đơn). Hợp đồng quy định số lượng, chất lượng căn cứ vào biên bản giám định của NKKK (tại cảng xếp hàng) và Vinacontrol (tại cảng dỡ hàng). Thỏa thuận cho phép dung sai kích cỡ không vượt quá $\pm 5%$; phần khối lượng vượt tỷ lệ dung sai sẽ bị giảm giá thanh toán xuống mức 50 USD/MT. Khi bị đơn giao 4.018 MT thép phế liệu, biên bản giám định của Vinacontrol xác định một phần khối lượng giao không đúng chủng loại và vượt tỷ lệ dung sai quy định, làm phát sinh tranh chấp về áp dụng đơn giá khấu trừ và trách nhiệm của các bên trung gian trong quá trình giao nhận hàng hóa quốc tế.


Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giao kết, thực hiện hợp đồng ủy thác xuất, nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam

Chương 3 đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống thể chế pháp lý:

  • Hoàn thiện các quy định của Luật Thương mại năm 2005:
    • Sửa đổi, bổ sung các quy phạm điều chỉnh hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nói chung và ủy thác xuất nhập khẩu nói riêng nhằm đảm bảo tính thống nhất với Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Quản lý ngoại thương 2017.
    • Bổ sung quy định bắt buộc và chế tài nghiêm khắc về nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng, chống hành vi bên nhận ủy thác chiếm đoạt bạn hàng hoặc trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của bên ủy thác.
  • Xây dựng khung pháp lý về hợp đồng mẫu và điều khoản mẫu: Khuyến nghị ban hành các hướng dẫn chi tiết về nội dung hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu chuẩn, đặc biệt là các điều khoản về chất lượng, đơn vị giám định độc lập, chế tài phạt vi phạm và cơ chế giải quyết tranh chấp.
  • Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật:
    • Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đàm phán và hiểu biết pháp luật ngoại thương cho đội ngũ cán bộ pháp chế, thương nhân.
    • Tuyên truyền, định hướng thương nhân áp dụng các quy tắc tư pháp quốc tế (lựa chọn luật áp dụng theo Điều 683 BLDS 2015) và ưu tiên giải quyết tranh chấp qua con đường trọng tài thương mại để bảo đảm tính linh hoạt, bảo mật và phù hợp với tập quán quốc tế.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính:

    • Khóa luận đã hệ thống hóa và phân định rõ bản chất pháp lý của hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu hàng hóa: đây là loại hợp đồng dịch vụ thương mại đặc thù, bên nhận ủy thác nhân danh chính mình khi giao dịch với bên thứ ba nhưng hoạt động vì lợi ích và rủi ro kinh tế của bên ủy thác để hưởng thù lao.
    • Làm rõ cơ chế áp dụng các quy phạm xung đột pháp luật theo Bộ luật Dân sự năm 2015 trong việc xác định luật áp dụng đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài (quy tắc mối liên hệ gắn bó nhất, quy tắc dẫn chiếu đến pháp luật nội dung tại Điều 668).
    • Phân loại và phân tích chi tiết quy trình nghiệp vụ xuất khẩu - nhập khẩu ủy thác gồm các bước cụ thể từ kiểm tra danh mục cấm/giấy phép, lập hồ sơ hải quan, vận đơn, hóa đơn giá trị gia tăng đến thanh quyết toán; cùng 7 nghĩa vụ luật định của bên nhận ủy thác theo Điều 165 Luật Thương mại 2005.
    • Phân tích thực tế vụ việc tranh chấp 4.018 MT thép phế liệu (hợp đồng 4.000 MT có điều khoản dung sai $\pm 5%$, biên bản giám định NKKK và Vinacontrol, mức phạt giảm giá 50 USD/MT) nhằm minh chứng cho các rủi ro về giám định chất lượng và soạn thảo điều khoản kỹ thuật.
  • Giải pháp và kiến nghị đề xuất:

    • Sửa đổi, hoàn thiện Luật Thương mại để đồng bộ hóa với Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Quản lý ngoại thương 2017.
    • Bổ sung chế tài cụ thể xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm bảo mật thông tin thương mại của bên nhận ủy thác.
    • Xây dựng tiêu chuẩn hóa hợp đồng mẫu và nâng cao năng lực đàm phán, quản trị rủi ro cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận không chỉ dừng lại ở việc phân tích khái niệm lý luận chung như các công trình năm 2014, 2018, mà đã đánh giá toàn diện chế định này sau hơn 19 năm thi hành Luật Thương mại 2005, cập nhật đồng bộ với các văn bản mới (BLDS 2015, Luật QLNT 2017, Nghị định 69/2018/NĐ-CP, VBHN 17/VBHN-VPQH năm 2019) và tiếp cận từ góc độ thực tiễn rủi ro của doanh nghiệp trong chuỗi logistics quốc tế.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận tập trung nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý lý thuyết và quy định pháp luật thực định Việt Nam, phạm vi khảo sát thực tiễn dựa trên các văn bản quy phạm hiện hành và một số vụ việc tranh chấp điển hình, chưa có điều kiện mở rộng khảo sát định lượng diện rộng trên toàn bộ các hiệp hội ngành hàng xuất nhập khẩu tại các vùng kinh tế trọng điểm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh pháp luật chuyên sâu về hợp đồng ủy thác thương mại (commercial agency / commission contract) giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của các quốc gia đối tác thương mại lớn (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc); nghiên cứu chuyên biệt về hợp đồng ủy thác đối với từng nhóm mặt hàng đặc thù có điều kiện ngặt nghèo như dược phẩm, phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất hoặc nông sản xuất khẩu theo hạn ngạch.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Luật (Luật Thương mại, Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế) sử dụng làm tài liệu học tập, nghiên cứu và giảng dạy về chế định trung gian thương mại và pháp luật ngoại thương.
    • Các cán bộ pháp chế, nhà quản lý tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, doanh nghiệp dịch vụ logistics, đại lý hải quan để tham khảo quy trình nghiệp vụ và nhận diện các bẫy pháp lý khi soạn thảo, đàm phán hợp đồng ủy thác.
    • Các nhà lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước tham khảo cho quá trình tổng kết, sửa đổi, bổ sung Luật Thương mại năm 2005.
  • Phần nội dung đáng chú ý: Mục phân tích 7 nhóm rủi ro/vướng mắc trong giao kết hợp đồng (Chương 2), bảng phân định tư cách pháp lý giữa các hình thức trung gian thương mại (Chương 1) và quy trình nghiệp vụ ủy thác xuất/nhập khẩu gắn liền với Điều 165 Luật Thương mại 2005.

Câu hỏi thường gặp

1. Bên nhận ủy thác xuất nhập khẩu hàng hóa cần đáp ứng những điều kiện pháp lý bắt buộc nào?
Theo quy định tại Điều 156 Luật Thương mại 2005, Điều 50 Luật Quản lý ngoại thương 2017 và Nghị định 69/2018/NĐ-CP được phân tích trong khóa luận: Bên nhận ủy thác bắt buộc phải có tư cách thương nhân và kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được ủy thác. Hàng hóa ủy thác không thuộc Danh mục cấm xuất nhập khẩu hoặc tạm ngừng xuất nhập khẩu. Đối với hàng hóa thuộc diện xuất nhập khẩu theo giấy phép hoặc theo điều kiện, bên ủy thác hoặc bên nhận ủy thác phải có giấy phép và đáp ứng đủ điều kiện trước khi ký hợp đồng ủy thác. Đồng thời, doanh nghiệp nhận ủy thác phải xuất trình cho cơ quan hải quan giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và mã số kinh doanh xuất nhập khẩu.

2. Điểm khác biệt mấu chốt về tư cách pháp lý giữa bên nhận ủy thác và bên đại diện cho thương nhân khi xác lập giao dịch với bên thứ ba là gì?
Khóa luận chỉ rõ: Khi tham gia giao dịch với bên thứ ba, bên nhận ủy thác nhân danh chính mình (sử dụng danh nghĩa, tư cách pháp lý của bản thân) và trực tiếp gánh chịu các hậu quả pháp lý phát sinh từ giao dịch đó chứ không nhân danh bên ủy thác. Ngược lại, trong quan hệ đại diện cho thương nhân, bên đại diện thực hiện hoạt động thương mại nhân danh bên giao đại diện và hậu quả pháp lý do bên giao đại diện gánh chịu trong phạm vi ủy quyền.

3. Khóa luận nêu ra rủi ro cạnh tranh không lành mạnh nào có thể phát sinh từ phía bên nhận ủy thác?
Trong thực tiễn giao kết hợp đồng, một bên nhận ủy thác thiếu thiện chí sau khi thực hiện dịch vụ ủy thác và nắm được toàn bộ thông tin nhà cung cấp, bí mật giá cả, nguồn hàng của bên ủy thác đã tự mình đứng ra nhập khẩu trực tiếp mặt hàng đó từ chính đối tác nước ngoài (thậm chí đăng ký làm đại lý độc quyền trong khu vực), từ đó quay lại cạnh tranh trực tiếp và chèn ép bên đã từng ủy thác cho mình.

4. Khi hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu có yếu tố nước ngoài không thỏa thuận chọn luật áp dụng thì việc xác định pháp luật điều chỉnh được thực hiện theo nguyên tắc nào?
Căn cứ Điều 664 và Điều 683 Bộ luật Dân sự 2015 được phân tích tại Chương 1: Trường hợp các bên không có thỏa thuận chọn luật, cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ áp dụng pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó (ví dụ: đối với hợp đồng dịch vụ là pháp luật của nước nơi người cung cấp dịch vụ cư trú hoặc thành lập; đối với hợp đồng mua bán hàng hóa là pháp luật của nước nơi người bán cư trú hoặc thành lập).

5. Trong vụ việc thực tế về tranh chấp 4.000 MT thép phế liệu ở Chương 2, điều khoản nào là mấu chốt gây ra tranh chấp giữa các bên?
Vấn đề mấu chốt nằm ở điều khoản quy định chất lượng và đơn giá khấu trừ dung sai: Hợp đồng quy định số lượng, phẩm chất căn cứ vào biên bản giám định của NKKK (tại cảng xếp) và Vinacontrol (tại cảng dỡ), nếu dung sai vượt quá $\pm 5%$ so với tỷ lệ kích cỡ quy định thì phần khối lượng vượt quá chỉ được thanh toán theo đơn giá giảm là 50 USD/MT. Khi bên bán giao 4.018 MT, kết quả giám định của Vinacontrol phát hiện hàng sai chủng loại và vượt tỷ lệ dung sai, dẫn đến bất đồng về việc áp dụng đơn giá khấu trừ và xác định lỗi vi phạm hợp đồng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Minh Quân đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá sâu sắc thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ giao kết, thực hiện hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu hàng hóa tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích các văn bản luật thực định và các vụ việc thực tế, công trình đã làm nổi bật 7 nhóm rủi ro điển hình trong giao kết cũng như các bất cập sau hơn 19 năm thi hành Luật Thương mại 2005. Các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực thực thi được đề xuất có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp, giảng dạy học thuật và quản trị rủi ro của cộng đồng doanh nghiệp thương mại quốc tế.