CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI 1.1 Một sổ khái niệm cơ bản về chế tài trong thương mại 1.1 Khái niệm chế tài trong thương mại Theo nghĩa rộng: Chế tài thương mại theo nghĩa rộng được hiểu là chế tài do cơ quan nhà nước , bên bị vi phạm áp dụng đối với chủ thể vi phạm khi có hành vi vi phạm pháp luật thương mại. Hành vi vi phạm pháp luật thương mại ở đây bao gồm các hành vi vi phạm trong quá trình các chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng; các hành vi vi phạm quy định pháp luât về trật tự quản lý kinh tế. Tùy thuộc vào mức độ vi phạm, hậu quả mà chủ thể có hành vi vi phạm bị áp dụng chế tài hành chính, dân sự ( ví dụ: bồi thường thiệt hại ) hay hình sự (ví dụ: các hình phạt đối với tội “Buôn lậu”). Các đặc trưng cơ bản của chế tài hiểu theo cách này là: Về phạm vi dụng: Theo Luật thương mại 2005: mọi hành vi vi phạm pháp luật thương mại đều bi phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh.
Tất cả các hành vi vi phạm pháp luật trong thương mại đều thuộc phạm vi điều chỉnh của chế tài. Các hành vi vi phạm pháp luật thương mại không chỉ bao gồm những hành vi vi phạm chế độ quản lí nhà nước trong lình vực thương mại mà còn các hành vi vi phạm xảy ra trong quá trình thương nhân thực hiện và ký kết hợp đồng. Đối tượng bị áp dụng chế tài trong thương mại: Đối tượng bị áp dụng chế tài trong thương mại chủ yếu là thương nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong thương mại. Do việc thực hiện thường xuyên các hoạt động thương mại, là đối tượng áp dụng của luật thương mại nên khi có hành vi vi phạm pháp luật nên phải chịu các chế tài trong thương mại.
Bên canh đó, chế tài trong thương mại cũng áp dụng với chủ thể không phải là thương nhân, ví dụ như chủ thể thực hiện hành vi kinh doanh trái phép. Chủ thể có quyền áp dụng chế tài: Chủ yếu là cơ quan nhà nước có thẩm quyền ( ví dụ Cơ quan quản lí thị trường, Tòa án.) hay chính bên bị vi phạm cam kết trong hợp đồng. Hình thức chế tài: Dựa vào tính chất, mức độcác hành vi vi phạm mà có thể áp dụng các chế tài hành chính, chế tài hình sự hay các chế tài mang tính chất dân sự. 7 Luan van Mục đích của việc áp dụng chế tài: Căn cứ vào chế tài mà các chủ thể bị áp dụng nhằm các mục đích: Đối với các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm trật tự quản lí hoạt động thương mại của nhà nước (ví dụ: buôn lậu, kinh doanh bất hợp pháp.) thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, xã hội và của chính người tiêu dùng.
Đối với hành vi vi phạm chế độ hợp đồng, chế tài nhằm đảm các bên thực hiện nghiêm túc hợp đồng, ngăn ngừa các hành vi vi phạm, bắt bên bị vi phạm chịu trách nhiệm. Như vậy, theo các hiểu này chủ thể tham gia vào pháp luật thương mại có hành vi vi phạm pháp LTM là có căn cứ áp dụng chế tài qua đó dễ dàng truy cứu trách nhiệm các nhân, tổ chức. Để có thể tìm hiểu kỹ hơn chế tài theo phương diện này cần nghiên cứu kỹ càng, trên nhiều phương diện. Vì vậy trong phạm vi đề tài khóa luận chỉ phân tích chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm trong quan hệ hợp đồng.
Theo nghĩa hẹp: Chế tài thương mại theo nghĩa hẹp được áp dụng cho bên vi phạm khi có những hành vi vi phạm xảy ra trong giao kết, thực hiện hợp đồng. Chế tài này còn được gọi là chế tài hợp đồng. Khi một bên chủ thể vi phạm các quy định về thương mại được quy định trong LTM 2005 và các quy định khác có liên quan, sẽ bị áp dụng các chế tài được quy định tại Điều 292, LTM 2005, cụ thể: "Điều 292. Các loại chế tài trong thương mại 1.
Buộc thực hiện đúng hợp đồng 2. Phạt vi phạm. Buộc bồi thường thiệt hại. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
Đình chỉ thực hiện hợp đồng. Huỷ bỏ hợp đồng. Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế. " Như vậy, chế tài hiểu theo nghĩa hẹp là những chế tài mang bản chất dân sự, có tác động bất lợi về tài sản đối với chủ thể vi phạm nhằm mục đích đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bên bị vi phạm.
Chế tài này bao gồm những hình thức xử lí và hậu quả pháp lí áp dụng đối với bên có hành vi vi phạm trong quá tình ký kết, thực hiện hợp đồng trong thương mại. Để phù hợp với khả năng cũng như tập trung vào một số vấn đề của chế tài trong thương mại, em tập trung nghiên cứu chế tài trong thương mại theo nghĩa hẹp, các chế tài theo quy định tại Điều 292 LTM 2005 và các vấn đề thực tiễn thực hiện tại công ty.2 Đặc điểm của chế tài thương mại Chế tài trong thương mại theo nghĩa hẹp với bản chất là các biện pháp tác động đến tài sản của chủ thể có hành vi vi phạm cam kết trong hợp đồng thương mại. Do vậy chế tài trong thương mại có đặc điểm sau: Thứ nhất: Chế tài trong thương mại là các chế tài phát sinh khi có hành vi vi phạm hợp đồng thương mại. Khác với các loại chế tài pháp lý nói chung được áp dụng với mọi hành vi vi phạm pháp luật, chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại chỉ được áp dụng đối với những hành vi vi phạm những điều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Xuất phát từ nguyên tắc tự do thỏa thuận nên các bên được tự nguyện giao kết và thảo thuận những điều khoản trong hợp đồng để phù hợp với mục đích kinh doanh của mình. Chính vì vậy, khi hợp đồng phát sinh hiệu lực các bên sẽ phải ràng buộc với nhau về các quyền và nghĩa vụ đã cam kết, mọi hành vi vi phạm nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi hay những chế tài do vi phạm hợp đồng Thứ hai: Chế tài trong thương mại là các chế tài mang tính chất tài sản. Chế tài được áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng và buộc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về tài sản. Yếu tố tài sản thể hiện ở cách thức bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, đó là: Bên vi phạm phải dùng tiền (tài sản) thuộc quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ nộp phạt, nghĩ vụ bồi thường thiệt hại do đã không thực hiện hoặc thực 9 Luan van hiện không đúng, không đầy đủ cam kết trong hợp đồng.
Việc nộp tiền phạt hay bồi thường thiệt hại được thực hiện theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Bên vi phạm buộc phải có những chi phí hợp lý cần thiết để thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi bên bị vi phạm áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng. Ví dụ như chi phí sủa chữa sai sót, loại trừ khuyết tật của hàng hóa… Việc áp dụng các hình thức chế tài tạm ngừng, đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích vật chất của các bên. Thứ ba: Chủ thể có quyền lựa chọn và áp dụng các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại là chủ thể có quyền và lợi ích bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng.
Khi có hành vi vi phạm, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm thực hiện một hay nhiều hình thức chế tài theo cam kết trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Trường hợp yêu cầu thực hiện chế tài trong thương mại không được đáp ứng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Điều này thể hiện được quyền lựa chọn và quyết định áp dụng chế tài của bên bị vi phạm đối với bên vi phạm hợp đồng thương mại đã ký kết. Tòa án hay Trọng tài khi được yêu cầu giải quyết tranh chấp phải tôn trọng quyền tự định đoạt của nguyên đơn hoặc cũng có thể là yêu cầu phản tố của bị đơn.
Việc Tòa án hay Trọng tài ban hành phán quyết buộc bị đơn phải nộp tiền phạt hay bồi thường thiệt hại thể hiện cơ quan này đã chấp nhận một phần hay toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn chứ không thể hiện được việc quyết định áp dụng hình thức chế tài nào hay có áp dụng chế tài hay không mà quyền quyết định này thuộc về bên bị vi phạm. Thứ tư: Các hình thức chế tài trong thương mại sẽ được áp dụng trực tiếp đối với bên có hành vi vi phạm. Khi có hành vi vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm phải trực tiếp chịu trách nhiệm đối với bên bị vi phạm không phụ thuộc vào nguyên nhân sự vi phạm là do tổ chức, cá nhân nào gây ra. Việc bên vi phạm phải trực tiếp chịu trách nhiệm với bên bị vi phạm thể hiện ở các khía cạnh sau: Bên vi phạm hợp đồng phải dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để nộp tiền phạt hoặc bồi thường thiệt hại.
10 Luan van Bên vi phạm phải trực tiếp thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, phải trả các chi phí phát sinh khi sửa chữa, loại trừ khuyết tật hàng hóa khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. Bên bị vi phạm sẽ phải chịu tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng thậm chí hủy hợp đồng khi có hành vi vi phạm và lúc này lợi ích của chính bên vi phạm cũng sẽ bị ảnh hưởng. Thứ năm: Mục đích áp dụng chế tài thương mại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ hợp đồng. Xây dựng chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại trước hết là ngăn ngừa và hạn chế những hành vi vi phạm hợp đồng; khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng nhằm khôi phục lại trạng thái ban đầu, bồi hoàn những tổn thất đã xảy ra và trừng phạt bên vi phạm.