Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội qua thực tiễn tại phường phương đông thành phố uông bí tỉnh quảng ninh

Tìm hiểu pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông, Uông Bí. Nghiên cứu thực tiễn, phân tích chính sách, hỗ trợ cộng đồng.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Pháp luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

86
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Các công trình nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi của đề tài

1.4. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Đóng góp của đề tài

1.7. Kết cấu của đề tài

2. NỘI DUNG

2. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI CHO ĐỐI TƯỢNG BẢO TRỢ XÃ HỘI

1.1. Một số vấn đề cơ bản về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm

1.1.2. Nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội

1.1.3. Vai trò của an sinh xã hội

1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội

1.1.4.1. Hệ thống pháp luật
1.1.4.2. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước
1.1.4.3. Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội

1.1.5. Nội dung pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội

1.1.5.1. Pháp luật về bảo hiểm y tế cho đối tượng bảo trợ xã hội
1.1.5.2. Pháp luật về ưu đãi xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội
1.1.5.3. Pháp luật về các dịch vụ xã hội cơ bản cho đối tượng bảo trợ xã hội
1.1.5.4. Pháp luật về trợ giúp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội
1.1.5.4.1. Trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng
1.1.5.4.2. Đối tượng hưởng
1.1.5.4.3. Trợ giúp xã hội khẩn cấp
1.1.5.4.4. Đối tượng hưởng
1.1.5.4.5. Chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng
1.1.5.4.6. Đối tượng hưởng
1.1.5.4.7. Chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cơ sở an sinh xã hội, nhà xã hội
1.1.5.4.8. Đối tượng hưởng
1.1.5.4.9. Kinh phí thực hiện

1.2. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

3. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI CHO ĐỐI TƯỢNG BẢO TRỢ XÃ HỘI TẠI PHƯỜNG PHƯƠNG ĐÔNG, THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

2.1. Khái quát chung về phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

2.2. Thực trạng thi hành pháp luật về trợ giúp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

2.3. Hạn chế và nguyên nhân trong việc thi hành pháp luật trợ giúp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

2.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

4. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI CHO ĐỐI TƯỢNG BẢO TRỢ XÃ HỘI TẠI PHƯỜNG PHƯƠNG ĐÔNG, THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội

3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trợ giúp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

3.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khám phá An Sinh Xã Hội Cho Đối Tượng Bảo Trợ Tổng quan 55 ký tự

An sinh xã hội (ASXH) đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ các thành viên của xã hội, đặc biệt là những đối tượng dễ bị tổn thương. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp công cộng, nhằm giảm thiểu khó khăn về kinh tế và xã hội do mất hoặc giảm thu nhập. Điều này xuất phát từ các nguyên nhân như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết. Đồng thời, an sinh xã hội đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con. Tại Việt Nam, khái niệm an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và các dịch vụ xã hội cơ bản. Các quy định pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội là một phần quan trọng của hệ thống pháp luật Việt Nam, hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, văn minh.

1.1. Định nghĩa pháp luật an sinh xã hội hiện nay

Pháp luật an sinh xã hội là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật quốc gia. Nó bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các vấn đề xã hội, xác định quyền và nghĩa vụ của nhà nước, cá nhân trong việc hỗ trợ vật chất, tinh thần cho các thành viên xã hội gặp khó khăn, và đền đáp công lao cho người có công với đất nước. Pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội là các quy phạm pháp luật mà từ đó nó trở thành các quan hệ pháp luật an sinh xã hội. Các mối quan hệ an sinh xã hội hình thành trong lĩnh vực nhà nước tổ chức, thực hiện các hình thức bảo vệ, an sinh cho các thành viên xã hội.

1.2. Đặc điểm chính sách an sinh xã hội Việt Nam

Chính sách an sinh xã hội Việt Nam mang những đặc điểm riêng biệt, phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội và định hướng phát triển của đất nước. Chính sách an sinh xã hội Việt Nam tập trung vào việc bảo vệ người lao động và những người yếu thế trong xã hội. Bên cạnh các chế độ bảo hiểm xã hội, chính sách an sinh xã hội còn bao gồm các chương trình trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội và cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản. Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng và thực hiện chính sách an sinh xã hội, đồng thời khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội và cộng đồng.

II. Thách thức Pháp luật về Đối tượng Bảo Trợ Xã Hội Phân tích 58 ký tự

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, việc thực hiện pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Một số văn bản pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ, gây khó khăn cho việc áp dụng. Việc xác định và rà soát các đối tượng hưởng chính sách còn gặp nhiều vướng mắc. Nguồn lực tài chính cho an sinh xã hội còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Công tác quản lý và giám sát việc thực hiện chính sách còn chưa chặt chẽ. Thực tế cho thấy, nhiều địa phương vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

2.1. Những hạn chế về nguồn lực tài chính hiện nay

Nguồn lực tài chính cho an sinh xã hội, đặc biệt là cho đối tượng bảo trợ xã hội, còn hạn chế. Ngân sách nhà nước vẫn là nguồn chủ yếu, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng. Việc huy động các nguồn lực xã hội khác còn gặp nhiều khó khăn. Mức trợ cấp xã hội còn thấp, chưa đủ đảm bảo mức sống tối thiểu cho các đối tượng bảo trợ xã hội. Sự thiếu hụt về nguồn lực tài chính ảnh hưởng đến khả năng mở rộng diện bao phủ và nâng cao chất lượng các dịch vụ an sinh xã hội.

2.2. Bất cập trong việc xác định đối tượng thụ hưởng

Việc xác định và rà soát các đối tượng hưởng chính sách trợ cấp xã hội còn gặp nhiều vướng mắc. Tiêu chí xác định đối tượng còn chưa rõ ràng, dễ dẫn đến tình trạng bỏ sót hoặc cấp sai đối tượng. Công tác quản lý hồ sơ và theo dõi biến động của đối tượng còn chưa chặt chẽ. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc xác định đối tượng còn chưa hiệu quả. Những bất cập này ảnh hưởng đến tính công bằng và hiệu quả của chính sách an sinh xã hội.

2.3. Thực trạng chồng chéo trong quy định pháp luật

Hệ thống pháp luật về an sinh xã hội còn nhiều văn bản, quy định. Có sự chồng chéo và thiếu đồng bộ giữa các văn bản, gây khó khăn cho việc áp dụng và thực thi. Một số quy định còn chưa rõ ràng, thiếu tính khả thi. Các biện pháp đảm bảo thực hiện quy định chưa đầy đủ, rõ ràng khiến cho việc thực thi quyền của đối tượng bảo trợ xã hội chưa đạt hiệu quả cao.

III. Giải pháp Pháp luật ASXH Hướng dẫn từ Nghiên cứu Uông Bí 60 ký tự

Nghiên cứu tại Phường Phương Đông, Uông Bí cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu trong việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội. Cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức của người dân và cán bộ. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo tính đồng bộ, khả thi và dễ áp dụng. Tăng cường nguồn lực tài chính và nâng cao hiệu quả quản lý. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác an sinh xã hội, huy động sự tham gia của cộng đồng. Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác an sinh xã hội.

3.1. Tăng cường tuyên truyền pháp luật an sinh xã hội

Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an sinh xã hội đến mọi tầng lớp nhân dân. Tập trung vào các đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, người khuyết tật, người cao tuổi. Sử dụng đa dạng các hình thức tuyên truyền, như: Tổ chức hội nghị, hội thảo, phát tờ rơi, treo băng rôn, khẩu hiệu. Tăng cường thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Xây dựng các chương trình giáo dục về an sinh xã hội trong trường học và cộng đồng.

3.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật an sinh xã hội như thế nào

Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về an sinh xã hội, đảm bảo tính đồng bộ, khả thi và dễ áp dụng. Xây dựng các quy định cụ thể về tiêu chí xác định đối tượng, mức trợ cấp, quy trình thủ tục. Tăng cường tính minh bạch và công khai trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội. Nâng cao hiệu lực và hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật an sinh xã hội.

IV. Ứng dụng thực tiễn pháp luật An Sinh Xã Hội Uông Bí Điển hình 58 ký tự

Tại Phường Phương Đông, Uông Bí, việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đã mang lại những kết quả tích cực. Số lượng đối tượng được hưởng chính sách ngày càng tăng. Mức sống của các đối tượng bảo trợ xã hội được cải thiện. An ninh trật tự xã hội được đảm bảo. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, như: Nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường kiểm tra, giám sát, và huy động thêm nguồn lực.

4.1. Cải thiện đời sống đối tượng bảo trợ xã hội

Thực tế tại phường Phương Đông cho thấy, pháp luật về an sinh xã hội đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống của các đối tượng bảo trợ xã hội. Mức trợ cấp xã hội được điều chỉnh phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội. Các dịch vụ y tế, giáo dục được cung cấp đầy đủ và kịp thời. Các hoạt động hỗ trợ sinh kế được triển khai hiệu quả, giúp các đối tượng có thêm thu nhập.

4.2. Đảm bảo an ninh trật tự xã hội tại địa phương

Việc thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Giảm thiểu tình trạng đói nghèo, bất bình đẳng. Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân. Tạo sự đồng thuận và đoàn kết trong cộng đồng. Ngăn ngừa các tệ nạn xã hội.

V. Kết luận Phát triển Pháp luật ASXH cho tương lai 55 ký tự

Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội là một lĩnh vực quan trọng, cần được tiếp tục hoàn thiện và phát triển. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cộng đồng trong việc xây dựng và thực hiện chính sách. Cần có sự đầu tư thích đáng về nguồn lực tài chính và nhân lực. Cần có sự đổi mới tư duy và cách làm, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Với những nỗ lực chung, chúng ta có thể xây dựng một hệ thống an sinh xã hội vững mạnh, đảm bảo quyền lợi cho mọi người dân, đặc biệt là những đối tượng yếu thế.

5.1. Đổi mới tư duy trong chính sách an sinh xã hội

Cần có sự đổi mới tư duy trong chính sách an sinh xã hội, từ tư duy bao cấp sang tư duy phát triển. Khuyến khích sự tham gia của người dân và doanh nghiệp vào công tác an sinh xã hội. Tạo điều kiện cho các đối tượng bảo trợ xã hội phát huy khả năng của mình, vươn lên trong cuộc sống. Xây dựng một hệ thống an sinh xã hội chủ động, linh hoạt và hiệu quả.

5.2. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an sinh xã hội

Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an sinh xã hội, học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến. Tham gia các tổ chức quốc tế về an sinh xã hội. Thu hút nguồn lực từ các tổ chức quốc tế để hỗ trợ công tác an sinh xã hội trong nước. Nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trong lĩnh vực an sinh xã hội trên trường quốc tế.

17/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI CHO ĐỐI TƯỢNG BẢO TRỢ XÃ HỘI 1. Một số vấn đề cơ bản về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội 1. Khái niệm, đặc điểm * Khái niệm an sinh xã hội Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” [8].

Trong Điều 22 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân Quyền năm 1948 có nhắc đến về an sinh xã hội như sau: “Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia” [6]. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, trong từng giai đoạn phát triển lịch sử, kinh tế, xã hội khác nhau. Dựa trên đặc điểm riêng biệt ở Việt Nam, an sinh xã hội được hiểu là sự bảo vệ của Nhà nước và xã hội đối với các thành viên trước những rủi ro, biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất thu nhập, sức khỏe và các điều kiện sinh sống khác, đồng thời thực hiện ưu đãi đối với người có công và tiếp cận các dịch vụ xã hội cho mọi người dân [9]. Theo khái niệm này, nội dung của an sinh xã hội là phù hợp với quan điểm của ILO và điều kiện ở Việt Nam.

An sinh xã hội Việt Nam bao gồm các chế độ BHXH nhằm bảo vệ thu nhập trong các trường hợp rủi ro ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tuổi 7 già,…; BHYT nhằm bảo vệ sức khỏe cho người dân khi gặp rủi ro, ốm đau cần sử dụng các dịch vụ y tế; an sinh xã hội dưới các hình thức khác nhau nhằm hỗ trợ điều kiện sinh sống cho các đối tượng yếu thế; ưu đãi xã hội đối với người có công trên các lĩnh vực của đời sống và đảm bảo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở,… cho mọi người dân. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và định hướng phát triển an sinh xã hội quốc gia. * Khái niệm pháp luật an sinh xã hội Pháp luật an sinh xã hội là bộ phận rất quan trọng nằm trong hệ thống pháp luật của nước ta. Có quan điểm cho rằng pháp luật an sinh xã hội là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các vấn đề xã hội, xác định quyền và nghĩa vụ của nhà nước, cá nhân trong việc hỗ trợ về vật chất, tinh thần cho các thành viên xã hội gặp khó khăn trong cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng, đền đáp công lao với người có công với đất nước.

Ở nước ta, phạm vi điều chỉnh của Luật an sinh xã hội được mở rộng, đó chính là các quy phạm pháp luật an sinh xã hội, mà từ đó nó trở thành các quan hệ pháp luật an sinh xã hội. Quan hệ an sinh xã hội là những quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực nhà nước tổ chức, thực hiện các hình thức bảo vệ, an sinh cho các thành viên xã hội trong những trường hợp cần thiết nhằm mục đích an sinh xã hội, được các quy phạm an sinh xã hội điều chỉnh. Các quan hệ mà Luật an sinh xã hội Việt Nam điều chỉnh bao gồm các nhóm quan hệ xã hội sau: Nhóm quan hệ BHXH, nhóm quan hệ BHYT, nhóm quan hệ bảo hiểm thất nghiệp, nhóm quan hệ an sinh xã hội, nhóm quan hệ ưu đãi người có công với cách mạng, nhóm quan hệ về các dịch vụ xã hội cơ bản. Từ đó, pháp luật an sinh xã hội cũng được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội [9].

* Khái niệm bảo trợ xã hội Thuật ngữ “bảo trợ xã hội” còn khá mới mẻ và chỉ xuất hiện gần đây qua các 8 tài liệu nghiên cứu và các thảo luận chính sách trên thế giới. Đặc biệt với các nước đang phát triển thuật ngữ này mới chỉ được nhắc đến rộng rãi gần đây. Khái niệm này vẫn còn khá mơ hồ, chủ yếu là do có nhiều cách định nghĩa và cách giải thích khác nhau. Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) “BTXH là quyền tiếp nhận lợi ích từ chính phủ của cá nhân, hộ gia đình nhằm bảo vệ họ trước tình trạng mức sống thấp hay đang bị suy giảm, đặc biệt khi phải hứng chịu những rủi ro, nhờ đó đáp ứng được các nhu cầu cơ bản”[8].

Tổ chức này muốn nhấn mạnh về khịa cạnh bảo hiểm và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức. Định nghĩa này có xu hướng nghiêng về mức sống và quyền con người. Theo Quỹ nhi đồng của Liên hợp quốc (UNICEF) định nghĩa “BTXH là một tập hợp các hành động và chính sách nhằm giúp đỡ các cá nhân hay hộ gia đình giảm bớt tác động của rủi ro hay các cú sốc, đặc biệt là để bảo vệ quyền của những đối tượng dễ gặp rủi ro, dễ bị tổn thương và nghèo đói kinh niên nhất”[18]. Cách hiểu này thể hiện hành động che chở, bảo vệ quyền của những người nghèo đói, dễ bị tổn thương, họ cần được giúp đỡ để giảm bớt các tác động của rủi ro.

Đối với Ngân hàng thế giới (WB) “BTXH là một tập hợp các biện pháp nhằm cải thiện và bảo vệ vốn con người, bao gồm sự can thiệp vào thị trường lao động, chương trình bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc. Sự can thiệp của bảo vệ xã hội giúp các cá nhân, hộ gia đình, hay cộng đồng quản lý một cách tốt hơn những rủi ro thu nhập khiến những đối tượng này bị tổn thương”[18]. Định nghĩa này nhấn mạnh sự kiềm chế nguy cơ là cơ sở của BTXH; BTXH vừa là mạng lưới an toàn, vừa là bàn đạp thông qua sự phát triển của nguồn vốn con người. Tính dễ bị tổn thương được nhìn nhận theo những nguy cơ liên quan đến sự mất ổn định thu nhập và tiêu dùng.

Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) “BTXH là tập hợp các chính sách và các chương trình được thiết kế để giảm nghèo và sự tổn thương bằng cách thúc đẩy thị trường lao động hiệu quả, giảm sự phơi nhiễm của người dân trước các rủi ro và 9 nâng cao năng lực để họ có thể chống lại các mối nguy hiểm và sự gián đoạn/mất thu nhập”[10]. Định nghĩa này nhấn mạnh tính dễ tổn thương nếu người dân không có BTXH và tác hại của thiếu BTXH đối với người khác, tập trung vào khịa cạnh cải thiện thu nhập; hoàn thiện thể chế thị trường lao động và nâng cao năng lực của người dân. Ở Việt Nam, thuật ngữ này cũng chỉ mới được dùng trong những năm gần đây, đất nước ta vừa thoát ra khỏi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang một nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập với thế giới. Viện nghiên cứu phát triển xã hội định nghĩa BTXH là sự hỗ trợ trực tiếp cho các hộ gia đình nghèo và dễ tổn thương, bảo hiểm xã hội và các hoạt động khác nhằm giảm tính dễ tổn thương gây ra bởi những nguy cơ như thất nghiệp tuổi già và khuyết tật.

Định nghĩa trên chú trọng vào các cá nhân, nhóm người và bị đẩy ra ngoài lề của xã hội, ủng hộ sự định hướng như một hình thức BTXH thích hợp và không bao gồm những nhóm khá giả trong dân chúng. Định nghĩa này cần thiết cho việc đẩy mạnh hỗ trợ xã hội cho các cải cách kinh tế hiện nay, mục tiêu hướng dẫn là đảm bảo cuộc sống công bằng trong xã hội đối với mọi đối tượng BTXH. Theo nghĩa hẹp, BTXH là một chính sách xã hội của nhà nước nhằm cung cấp tài chính cho cuộc sống và sinh hoạt của những người hưu trí, mất sức lao động, ốm đau và những người không có khả năng lao động, thất nghiệp, cơ nhỡ và những người và hộ gia đình có công đặc biệt đối với đất nước. BTXH bao gồm bảo hiểm xã hội (hưu trí, mất sức, tai nạn lao động, thất nghiệp), trợ cấp xã hội (thương binh, gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng) và cứu trợ xã hội (cơ nhỡ, thiên tai, tệ nạn xã hội) trong đó bảo hiểm xã hội là bộ phận quan trọng nhất.

Khái niệm trên chỉ nêu khịa cạnh cung cấp tài chính cho một số đối tượng, nó thiên về bảo hiểm xã hội, đóng góp để được hưởng trợ cấp lúc khó khăn. Xét về một khịa cạnh nào đó, BTXH tương đồng với an sinh xã hội hay cứu trợ xã hội, là một bộ phận của an sinh xã hội; Một số tài liệu nghiên cứu cũng cho rằng các thuật ngữ này tương tự nhau. Thực chất, nếu hiểu theo cách đơn giản BTXH được 10 ghép từ bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội. Do đề tài chỉ giới hạn ở những người yếu thế thuộc đối tượng trong Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách an sinh xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và các văn bản pháp luật có liên quan nên khóa luận chỉ đề cập đến vấn đề an sinh mà không có bảo hiểm xã hội.

Qua nghiên cứu có thể đưa ra khái niệm về BTXH như sau: “BTXH là hệ thống các chính sách, chế độ, những hành động chủ yếu của Nhà nước và cộng đồng xã hội bằng các hình thức khác nhau nhằm giúp các đối tượng yếu thế giảm nhẹ và kiềm chế nguy cơ dễ bị tổn thương, bần cùng hóa, hòa nhập với cộng đồng, có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội, thúc đẩy công bằng và góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển”[15].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ