Luận văn pháp luật trợ giúp xã hội người khuyết tật - Hà Nội

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu pháp luật trợ giúp xã hội người khuyết tật tại Hà Nội, phân tích thực trạng, đánh giá hiệu quả chính sách hiện hành.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Tác giả

Phạm Thị Trang

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2016

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về pháp luật trợ giúp xã hội người khuyết tật Hà Nội

Pháp luật trợ giúp xã hội người khuyết tật Hà Nội là hệ thống quy phạm pháp lý do Nhà nước ban hành nhằm bảo đảm quyền lợi, hỗ trợ đời sống và thúc đẩy hòa nhập xã hội cho người khuyết tật trên địa bàn Thủ đô. Khái niệm này không chỉ bao gồm các chính sách hỗ trợ tài chính, y tế, giáo dục mà còn liên quan đến quyền tiếp cận thông tin, giao thông, việc làm và các dịch vụ công. Theo luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Trang (2016), pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật được xây dựng dựa trên nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt và lấy người khuyết tật làm trung tâm. Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ – từ 1946 đến 2013 – đều khẳng định người khuyết tật là công dân đầy đủ quyền và nghĩa vụ, đồng thời được hưởng trợ giúp xã hội như một quyền cơ bản. Tại Hà Nội, việc triển khai các quy định này được cụ thể hóa qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật cấp thành phố, đặc biệt là các quyết định về chuẩn nghèo, hỗ trợ hàng tháng, và chính sách ưu đãi trong giáo dục – y tế. Việc hiểu rõ bản chất và phạm vi điều chỉnh của pháp luật trợ giúp xã hội người khuyết tật Hà Nội là điều kiện tiên quyết để đảm bảo hiệu quả thực thi và bảo vệ quyền lợi cho nhóm đối tượng dễ tổn thương này.

1.1. Khái niệm người khuyết tật theo pháp luật hiện hành

Theo Luật Người khuyết tật năm 2010, người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng, dẫn đến hạn chế trong sinh hoạt, học tập, lao động. Phân loại khuyết tật bao gồm: khuyết tật vận động, nghe – nói, nhìn, thần kinh – tâm thần, và khuyết tật khác. Việc xác định mức độ khuyết tật (đặc biệt nặng, nặng, nhẹ) là cơ sở pháp lý để hưởng trợ giúp xã hội phù hợp. Tại Hà Nội, việc đánh giá này do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã thực hiện, đảm bảo tính minh bạch và khách quan.

1.2. Vai trò của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Pháp luật không chỉ là công cụ bảo vệ mà còn là phương tiện thúc đẩy hòa nhập xã hội cho người khuyết tật. Thông qua các chính sách hỗ trợ, Nhà nước tạo điều kiện để họ tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, việc làm và tham gia đời sống cộng đồng. Đặc biệt, tại Hà Nội – trung tâm hành chính – kinh tế – văn hóa của cả nước – vai trò của pháp luật trợ giúp xã hội người khuyết tật càng trở nên quan trọng trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và yêu cầu về tính bao trùm xã hội ngày càng cao.

II. Những thách thức trong thực thi pháp luật trợ giúp xã hội người khuyết tật Hà Nội

Mặc dù hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội người khuyết tật Hà Nội đã được xây dựng tương đối đầy đủ, thực tiễn triển khai vẫn bộc lộ nhiều bất cập. Theo nghiên cứu của Phạm Thị Trang (2016), một trong những rào cản lớn nhất là thiếu thông tin – nhiều người khuyết tật và gia đình không biết đến quyền lợi mình được hưởng hoặc không nắm rõ thủ tục đăng ký. Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính hạn chế khiến mức hỗ trợ chưa đáp ứng đủ nhu cầu tối thiểu, đặc biệt với nhóm khuyết tật đặc biệt nặng. Hệ thống cơ sở hạ tầng chưa thân thiện – từ giao thông công cộng đến tòa nhà công – cũng làm giảm hiệu quả của các chính sách trợ giúp. Ngoài ra, thái độ kỳ thị trong cộng đồng và thiếu đào tạo cho cán bộ cơ sở về quyền người khuyết tật làm chậm quá trình hòa nhập. Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi cá nhân mà còn cản trở mục tiêu phát triển bền vững và công bằng xã hội của thành phố Hà Nội.

2.1. Rào cản tiếp cận thông tin và thủ tục hành chính

Nhiều người khuyết tật, đặc biệt ở vùng ven đô, gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin chính sách do thiếu phương tiện, trình độ học vấn hạn chế hoặc rào cản ngôn ngữ (ví dụ: người khiếm thính không có phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu). Thủ tục xác định mức độ khuyết tật và đăng ký hưởng trợ cấp còn phức tạp, đòi hỏi nhiều giấy tờ và đi lại nhiều lần – điều này gây khó khăn cho người khuyết tật vận động.

2.2. Hạn chế về nguồn lực và cơ sở hạ tầng

Mức trợ cấp xã hội hàng tháng cho người khuyết tật tại Hà Nội (khoảng 360.000–540.000 đồng/người/tháng tùy mức độ) chưa đủ để chi trả chi phí sinh hoạt cơ bản. Đồng thời, hạ tầng đô thị như vỉa hè, xe buýt, tòa nhà công chưa được cải tạo đầy đủ theo tiêu chuẩn tiếp cận cho người khuyết tật, làm giảm tính hiệu quả của chính sách trợ giúp xã hội.

III. Phương pháp cải thiện pháp luật trợ giúp xã hội người khuyết tật Hà Nội

Để nâng cao hiệu quả pháp luật trợ giúp xã hội người khuyết tật Hà Nội, cần tiếp cận toàn diện từ khâu lập pháp đến thực thi. Trước hết, cần rút ngắn và số hóa thủ tục hành chính, cho phép đăng ký trực tuyến và xác nhận mức độ khuyết tật qua hệ thống y tế cơ sở. Thứ hai, tăng mức hỗ trợ tài chính theo chỉ số lạm phát và chuẩn nghèo đa chiều, đồng thời mở rộng phạm vi hỗ trợ sang các dịch vụ như phục hồi chức năng, hỗ trợ việc làm và công nghệ hỗ trợ. Thứ ba, tăng cường truyền thông về quyền người khuyết tật qua các kênh truyền hình, mạng xã hội và trường học để thay đổi nhận thức cộng đồng. Cuối cùng, cần đào tạo chuyên sâu cho cán bộ xã, phường về kỹ năng giao tiếp và hỗ trợ người khuyết tật – như đề xuất trong luận văn của Phạm Thị Trang. Các giải pháp này không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn phản ánh cam kết chính trị mạnh mẽ của chính quyền Hà Nội trong việc xây dựng một đô thị bao trùm và nhân văn.

3.1. Đơn giản hóa thủ tục và ứng dụng công nghệ

Việc tích hợp dịch vụ trợ giúp xã hội vào Cổng Dịch vụ công thành phố Hà Nội giúp người khuyết tật và người thân dễ dàng đăng ký, theo dõi tiến trình và phản ánh vướng mắc. Đồng thời, sử dụng hồ sơ sức khỏe điện tử để liên thông dữ liệu giữa y tế và lao động – thương binh – xã hội sẽ giảm thời gian và chi phí cho người dân.

3.2. Nâng cao năng lực cán bộ cơ sở

Cán bộ xã, phường là người trực tiếp tiếp xúc với người khuyết tật. Do đó, cần tổ chức các khóa đào tạo định kỳ về pháp luật trợ giúp xã hội, kỹ năng giao tiếp với người khiếm thính, khiếm thị và người có khuyết tật tâm thần. Đây là yếu tố then chốt để đảm bảo chính sách trợ giúp xã hội được triển khai đúng đối tượng và đúng mức.

IV. Ứng dụng thực tiễn Kết quả từ các mô hình trợ giúp xã hội tại Hà Nội

Trong những năm gần đây, Hà Nội đã triển khai nhiều mô hình trợ giúp xã hội người khuyết tật mang lại hiệu quả thiết thực. Tiêu biểu là mô hình “Trợ giúp xã hội dựa vào cộng đồng” tại các quận như Ba Đình, Hoàn Kiếm và huyện Thanh Trì, nơi người khuyết tật được hỗ trợ không chỉ về vật chất mà còn về tâm lý, kỹ năng sống và kết nối việc làm. Ngoài ra, chương trình “Xe lăn miễn phí” và “Phục hồi chức năng tại nhà” do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với các tổ chức phi chính phủ thực hiện đã giúp hàng nghìn người khuyết tật vận động cải thiện chất lượng sống. Theo báo cáo năm 2023, Hà Nội có hơn 65.000 người khuyết tật đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng – tỷ lệ cao nhất cả nước. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 15–20% người khuyết tật chưa được xác định hoặc chưa tiếp cận chính sách do rào cản địa lý và nhận thức. Những mô hình thành công này chứng minh rằng pháp luật trợ giúp xã hội người khuyết tật Hà Nội có thể phát huy hiệu quả nếu được triển khai linh hoạt, lấy người dân làm trung tâm.

4.1. Mô hình trợ giúp xã hội dựa vào cộng đồng

Mô hình này huy động sự tham gia của tổ dân phố, hội phụ nữ, đoàn thanh niên để phát hiện, hỗ trợ và giám sát việc thực hiện chính sách cho người khuyết tật. Nhờ đó, nhiều trường hợp khuyết tật nhẹ hoặc ẩn (như khuyết tật tâm thần) đã được đưa vào diện hỗ trợ kịp thời.

4.2. Hợp tác công tư trong cung cấp dịch vụ

Sự phối hợp giữa chính quyền Hà Nội và các tổ chức như Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học về Khuyết tật (DRD), Tổ chức Hỗ trợ Người khuyết tật Việt Nam (VNAH) đã mang lại dịch vụ chất lượng cao như đào tạo nghề, cung cấp công nghệ hỗ trợ và tư vấn pháp lý miễn phí – góp phần hiện thực hóa quyền hòa nhập xã hội cho người khuyết tật.

V. Tương lai của pháp luật trợ giúp xã hội người khuyết tật Hà Nội

Tương lai của pháp luật trợ giúp xã hội người khuyết tật Hà Nội gắn liền với chiến lược phát triển đô thị thông minh và bền vững của thành phố. Dự kiến đến năm 2030, Hà Nội sẽ hoàn thiện hệ thống chính sách trợ giúp xã hội theo hướng cá nhân hóa – tức là hỗ trợ dựa trên nhu cầu cụ thể của từng người khuyết tật, chứ không chỉ dựa trên mức độ khuyết tật. Đồng thời, việc tích hợp dữ liệu người khuyết tật vào hệ thống quản lý dân cư quốc gia sẽ giúp theo dõi, đánh giá và điều chỉnh chính sách kịp thời. Ngoài ra, Hà Nội đang nghiên cứu áp dụng mô hình “ngân sách có tính đến người khuyết tật” (disability-inclusive budgeting) để đảm bảo phân bổ nguồn lực công bằng. Với cam kết thực hiện Công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tật (CRPD) và các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs), pháp luật trợ giúp xã hội người khuyết tật Hà Nội sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng nhân văn, hiệu quả và bao trùm – biến Thủ đô thành hình mẫu về an sinh xã hội cho người khuyết tật tại Việt Nam.

5.1. Hướng tới chính sách trợ giúp cá nhân hóa

Thay vì áp dụng mức hỗ trợ chung, chính sách tương lai sẽ dựa trên đánh giá nhu cầu cá nhân – bao gồm y tế, giáo dục, việc làm và hỗ trợ tâm lý – để xây dựng kế hoạch hỗ trợ riêng. Điều này đòi hỏi hệ thống đánh giá chuyên sâu và đội ngũ chuyên gia liên ngành.

5.2. Tích hợp dữ liệu và ngân sách bao trùm

Việc kết nối cơ sở dữ liệu người khuyết tật với hệ thống ngân sách thành phố giúp theo dõi hiệu quả chi tiêu và đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau. Đây là bước tiến quan trọng trong việc hiện thực hóa quyền được trợ giúp xã hội một cách công bằng và minh bạch.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tại thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chưng về người khuyết tật và pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tậL Chương 2: Thực trạng pháp luật về trợ giúp xã hội đỗi với người khuyết tật và thực tiễn thực hiện tại Thành phố Hả Nội. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật. ‘Tay nhién, thuc trang tro grip x4 hdi đối với người khuyết tật ở nước ta cũng bộc lô nhiều hạn chế, như: còn một số dỗi tượng người khuyết tật chưa dược hưởng trợ giúp; thủ tục, diều kiên hưởng trợ giủp rườm rà; mức trợ giúp hiện hành cha người khuyết tật còn thấp. Vì những lý do đó, tôi lựa chọn để tài “Pháp luật về trợ giúp xã hội đẫi với ngời khuyết tật - Từ thực tiễn tại Thành phố 1à Nội” làm để tài luận văn thạc sĩ của minh với mong muốn gop phần hoàn thiện pháp luật và thực tiễn trợ giúp xã hội đổi với người khuyết tật ở ‘Thanh phố Hà Nội nói riềng và cả nước nói chung, 2.

Tình hình nghiên cứu Hoạt động trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật có ý nghĩa thực tiễn võ cùng to lớn đối với công cuộc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội. Vì vậy, vẫn đề này đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Trong số các công trình đã được công bố, có thế kế tên một số công trình liên quan trực tiếp đến đề tải luận văn là - Luận án tiến sĩ Luật học “Hoàn thiện pháp luậi về quyên của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” của tác giá Nguyễn Thị Bảo năm 2008; - Luận văn thạo sỹ Luật học “Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật cia [18 Thi Tram nim 2013; - Luận văn thạc sỹ Luật học “Chế độ bão trợ đối với người khuyết tật” của Nguyễn ức Hoàng năm 2013; - Luận văn thạc sỹ công tác xã hội “Đánh giá việc thực hiện chính sách trợ. giúp xã hội đối với người khuyết tật ở xã llợp Đông, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội” của Nguyễn Thị Quỳnh năm 2014, - “Xây dựng và hoàn thiện hệ thắng chỉnh sách an sinh xã hội ở Liệt Nam ” của Míai Ngọc Cường, Nhà xuất bản Chính Trị quốc gia, IIA Ndi, 2009, - Giáo trình Luật Người khuyết tật năm 2011 của 'Trường đại học luật Ha Nội do Nguyễn Hữu Chí chủ biên: - Bài viết “Pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyŠt tật tại Việt Nam ~ Thực tiễn và một số kiến nghị” của Nguyễn Hiền Phương trên tạp chí Tuuật học số đặc san năm 2013; - Đài viết “Thực trạng an sinh xã hội ở Việt Nam và phương hướng hoàn thiện” của I.ẽ Thị Hoài Thu trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1 năm 2014, - Bài viết “Môi số bắt cập trong dp dung pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật ở Liệt Nam hiện nay” cha Hoang Kim Khuyén số 10 năm 2015 Thhững công trình nghiên cứu trên nhìn chung đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động trợ giúp xã hội đổi với người khuyết tật trên từng khia cạnh và mức độ khác nhau.

Tuy vậy, công trình nghiên cứu về vẫn đề trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật một cách hệ thống và toàn điện thì vẫn còn ít, nhất thực tiễn thực hiện trên dịa bản Thành phổ Hà Nội là chưa cỏ công trình nghiền cửu nào. Vĩ tác giả tiếp tục nghiên cứu để tải này, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn điện hơn về trợ giúp xã hội dối với người khuyết tật vả thực tiễn tại Thánh phé Ha Noi, đưa ra một sỐ giải pháp hoàn thiện về vấn để này. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng cơ sở lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội dỗi với người khuyết tật, dựa trên cơ sở lý luận đỏ dễ đánh piá về thực trạng các quy dịnh pháp luật hiện hành, thực tiễn thực hiện trên dịa bản thánh phố Hà Nội và dưa ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội dối với người khuyết lật nhằm đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của thực tiễi ân đề báo vệ, hỗ trợ và thực hiện hóa quyền của người khuyết tật. Với mục đích như trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là Đánh giá về những quan điểm hiện hành và từ đó xây dựng nội dung lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật như: Xây dựng khái niệm trự Nội do Nguyễn Hữu Chí chủ biên: - Bài viết “Pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyŠt tật tại Việt Nam ~ Thực tiễn và một số kiến nghị” của Nguyễn Hiền Phương trên tạp chí Tuuật học số đặc san năm 2013; - Đài viết “Thực trạng an sinh xã hội ở Việt Nam và phương hướng hoàn thiện” của I.ẽ Thị Hoài Thu trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1 năm 2014, - Bài viết “Môi số bắt cập trong dp dung pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật ở Liệt Nam hiện nay” cha Hoang Kim Khuyén số 10 năm 2015 Thhững công trình nghiên cứu trên nhìn chung đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động trợ giúp xã hội đổi với người khuyết tật trên từng khia cạnh và mức độ khác nhau.

Tuy vậy, công trình nghiên cứu về vẫn đề trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật một cách hệ thống và toàn điện thì vẫn còn ít, nhất thực tiễn thực hiện trên dịa bản Thành phổ Hà Nội là chưa cỏ công trình nghiền cửu nào. Vĩ tác giả tiếp tục nghiên cứu để tải này, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn điện hơn về trợ giúp xã hội dối với người khuyết tật vả thực tiễn tại Thánh phé Ha Noi, đưa ra một sỐ giải pháp hoàn thiện về vấn để này. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng cơ sở lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội dỗi với người khuyết tật, dựa trên cơ sở lý luận đỏ dễ đánh piá về thực trạng các quy dịnh pháp luật hiện hành, thực tiễn thực hiện trên dịa bản thánh phố Hà Nội và dưa ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội dối với người khuyết lật nhằm đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của thực tiễi ân đề báo vệ, hỗ trợ và thực hiện hóa quyền của người khuyết tật. Với mục đích như trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là Đánh giá về những quan điểm hiện hành và từ đó xây dựng nội dung lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật như: Xây dựng khái niệm trự Nội do Nguyễn Hữu Chí chủ biên: - Bài viết “Pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyŠt tật tại Việt Nam ~ Thực tiễn và một số kiến nghị” của Nguyễn Hiền Phương trên tạp chí Tuuật học số đặc san năm 2013; - Đài viết “Thực trạng an sinh xã hội ở Việt Nam và phương hướng hoàn thiện” của I.ẽ Thị Hoài Thu trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1 năm 2014, - Bài viết “Môi số bắt cập trong dp dung pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật ở Liệt Nam hiện nay” cha Hoang Kim Khuyén số 10 năm 2015 Thhững công trình nghiên cứu trên nhìn chung đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động trợ giúp xã hội đổi với người khuyết tật trên từng khia cạnh và mức độ khác nhau.

Tuy vậy, công trình nghiên cứu về vẫn đề trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật một cách hệ thống và toàn điện thì vẫn còn ít, nhất thực tiễn thực hiện trên dịa bản Thành phổ Hà Nội là chưa cỏ công trình nghiền cửu nào. Vĩ tác giả tiếp tục nghiên cứu để tải này, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn điện hơn về trợ giúp xã hội dối với người khuyết tật vả thực tiễn tại Thánh phé Ha Noi, đưa ra một sỐ giải pháp hoàn thiện về vấn để này. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng cơ sở lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội dỗi với người khuyết tật, dựa trên cơ sở lý luận đỏ dễ đánh piá về thực trạng các quy dịnh pháp luật hiện hành, thực tiễn thực hiện trên dịa bản thánh phố Hà Nội và dưa ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội dối với người khuyết lật nhằm đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của thực tiễi ân đề báo vệ, hỗ trợ và thực hiện hóa quyền của người khuyết tật. Với mục đích như trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là Đánh giá về những quan điểm hiện hành và từ đó xây dựng nội dung lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật như: Xây dựng khái niệm trự ‘Tay nhién, thuc trang tro grip x4 hdi đối với người khuyết tật ở nước ta cũng bộc lô nhiều hạn chế, như: còn một số dỗi tượng người khuyết tật chưa dược hưởng trợ giúp; thủ tục, diều kiên hưởng trợ giủp rườm rà; mức trợ giúp hiện hành cha người khuyết tật còn thấp.

Vì những lý do đó, tôi lựa chọn để tài “Pháp luật về trợ giúp xã hội đẫi với ngời khuyết tật - Từ thực tiễn tại Thành phố 1à Nội” làm để tài luận văn thạc sĩ của minh với mong muốn gop phần hoàn thiện pháp luật và thực tiễn trợ giúp xã hội đổi với người khuyết tật ở ‘Thanh phố Hà Nội nói riềng và cả nước nói chung, 2. Tình hình nghiên cứu Hoạt động trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật có ý nghĩa thực tiễn võ cùng to lớn đối với công cuộc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội. Vì vậy, vẫn đề này đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ