CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ THI HÀNH ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm - Đặc điểm của thi hành án kinh doanh, thương mại 1. Khái niệm thi hành án kinh doanh thương mại Thi hành án KDTM bao gồm các hoạt động như cấp, chuyển giao bản bản án, quyết định KDTM; giải thích bản án, quyết định KDTM, tự nguyện thi hành án của người phải thi hành án; gửi đơn yêu cầu thi hành án; ra quyết định thi hành án; ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án; ra quyết định đình chỉ thi hành án; quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, tổ chức cưỡng chế thi hành án.
Thi hành án KDTM bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định; bảo vệ lợi ích của Nhà nước; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân. Thi hành án KDTM là một trong những nội dung cơ bản của tư pháp dân sự - kinh tế, có tác động trực tiếp tới hiệu quả của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể thông qua hoạt động tư pháp. Vì vậy, thi hành án KDTM luôn được Nhà nước và xã hội quan tâm. Quá trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau.
Việc giải quyết vụ việc KDTM tại toà án tuy rất quan trọng nhưng thực ra mới chi là giai đoạn đầu của quá trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong giai đoạn này, toà án mới chỉ làm rõ các tình tiết của vụ việc KDTM và áp dụng các quy phạm pháp luật quyết định quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc KDTM đã được toà án muốn trở thành hiện thực thì phải thông qua việc thi hành án. Trong đó, người có quyền thi hành án yêu cầu người có nghĩa vụ thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án của họ đối với mình và người có nghĩa vụ thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ của mình vì lợi ích của người có quyền thi hành án.
Do vậy, theo nghĩa chung thì thi hành án KDTM là thực hiện bản án. Thi hành án KDTM gắn liền với hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp vì xét xử, giải quyết tranh chấp và thi hành án là hai mặt của quá 8 trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Xét xử, giải quyết tranh chấp KDTM là tiền đề của thi hành án KDTM, không có xét xử thì không có thi hành án. Ngược lại, thi hành án tiếp nối với xét xử làm cho bản án, quyết định có hiệu lực trên thực tế nên có tác dụng củng cố kết quả xét xử.
Như vậy, Thi hành án kinh doanh thương mại là hoạt động hành chính - tư pháp, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo đảm thi hành phần tài sản, lợi ích của các bên trong bản án, quyết định của Tòa án trong vụ án kinh doanh thương mại. Đặc điểm của thi hành án kinh doanh thương mại Theo quy định của Luật thi hành án dân sự, thi hành án KDTM là một hình thức cụ thể của hoạt động thi hành án dân sự – do các cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục được quy định bởi pháp luật thi hành án. Thi hành án KDTM mang đầy đủ những đặc điểm của thi hành án dân sự, tuy nhiên, do tính chất đặc thù nên việc thi hành án KDTM có một số đặc điểm riêng, cụ thể: Thứ nhất, chủ thể thi hành án KDTM chủ yếu là các bên trong tranh chấp KDTM, tức là các “tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”, hoặc các bên trong tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và đều có mục đích lợi nhuận hoặc tranh chấp liên quan đến công ty1. Theo đó, đặc điểm để xác định các vụ án KDTM là tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức với nhau và các bên này tham gia vào quan hệ pháp luật với mục đích lợi nhuận.
Có thể nói, mục đích lợi nhuận là yếu tố quan trọng nhất để phân biệt vụ án dân sự với vụ án KDTM. Vì có mục đích lợi nhuận nên chủ thể thi hành án KDTM chủ yếu là các doanh nghiệp nhưng phần nhiều là công ty TNHH, công ty cổ phần, trong khi đó chỉ một số ít còn lại là doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh. Hiện nay, tranh chấp KDTM chủ yếu là tranh chấp giữa một bên là ngân hàng, tổ chức tín dụng với một bên là doanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp với nhau 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. 9 hoặc giữa các doanh nghiệp với cá nhân tham gia trong quan hệ thương mại.
Ví dụ như giữa ngân hàng với công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc cũng có thể giữa ngân hàng với các hộ kinh doanh cá thể. và tranh chấp xuất phát từ hoạt động kinh doanh, hợp đồng thương mại hoặc mục đích của việc vay vốn nhằm kinh doanh. Thứ hai, các nghĩa vụ phải thi hành án và tài sản để đưa ra thi hành án KDTM thường có giá trị lớn. Việc thi hành án KDTM thường liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng kinh tế giữa các pháp nhân; hợp đồng tín dụng, ngân hàng… nên thường có giá trị lớn.
Ngoài ra, chế độ quản lý tài sản phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề mang tính chất kinh tế, gây khó khăn cho quá trình thi hành án. Tài sản của các chủ thể KDTM tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như: quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, ngân hàng, tài khoản tại ngân hàng, sản phẩm hàng hóa, nhiều tài sản tương đối đặc biệt như: dây chuyền công nghệ, thương hiệu kinh doanh, nhãn hiệu hàng hóa. Tài sản phức tạp như vậy, liên quan đến nhiều vấn đề mang tính chất kinh tế, gây khó khăn cho quá trình thi hành án. hợp đồng tín dụng, ngân hàng… nên hạn chế trong từng nội dung nghiên.
Do đó việc xác minh, xử lý tài sản trong các việc thi hành án KDTM rất phức tạp và khó khăn. Trong quá trình hoạt động, để có được vốn hoạt động thì các doanh nghiệp phải thực hiện huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó vay vốn ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp là hình thức được các doanh nghiệp sử dụng khá phổ biến. Do đó, doanh nghiệp thường sử dụng chính tài sản sẵn có của mình để đảm bảo các khoản vay có giá trị, các hợp đồng tín dụng trong hoạt động KDTM thường có giá trị lớn. Thứ ba, việc thi hành án KDTM, cũng như thi hành án dân sự nói chung, xuất phát từ yêu cầu của bên được thi hành hoặc bên phải thi hành.
Để bản án KDTM của Tòa án có hiệu lực trên thực tế thì bên được thi hành án hoặc bên phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành để bảo đảm quyền lợi của mình theo bản án của Tòa án. Việc giải quyết tranh chấp và thi hành án KDTM tốn 10 nhiều thời gian và chi phí. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp thắng kiện thì Cơ quan thi hành án dân sự không chủ động thi đưa bản án, quyết định KDTM ra thi hành mà chỉ thi hành khi có yêu cầu của bên được hoặc bên phải thi hành án. Trên cơ sở bản án của Tòa án, doanh nghiệp cần phải có đơn yêu cầu thi hành án dân sự.
Bởi lẽ, giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án là hai giai đoạn riêng rẽ, độc lập và mỗi giai đoạn có những nhiệm vụ, quy trình riêng. Thứ tư, về tính trách nhiệm trong thi hành án KDTM có thể là đối tượng của quy định về tính trách nhiệm hữu hạn. Theo quy định của Luật doanh nghiệp thì thành viên của công ty TNHH chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty cổ phần. Theo đó, trách nhiệm về tài sản của cổ đông hoặc thành viên công ty chỉ giới hạn trong phạm vi vốn góp vào doanh nghiệp.
Riêng đối với trường hợp người phải thi hành án là công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thì thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty và chủ doanh nghiệp tư nhân phải tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là, mất bao lâu doanh nghiệp sẽ được thi hành án (lấy được tiền/thu hồi được tài sản). Chi phí thi hành án là bao nhiêu và những vướng mắc thường gặp trong thi hành án KDTM là gì. Thực tiễn, nhiều doanh nghiệp thắng kiện nhưng quá trình thi hành án kéo dài, tồn đọng từ năm này sang năm khác, doanh nghiệp vẫn chưa được thi hành án xong.
Pháp luật hiện hành không quy định cụ thể thời gian bao nhiêu lâu sẽ thi hành xong một việc thi hành án dân sự hay thi hành án KDTM, bởi lẽ tùy từng trường hợp cụ thể mà hiệu quả thi hành một việc thi hành án nhanh hoặc chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Cụ thể người phải thi hành án tự nguyện nộp tiền, tài sản để thi hành án; hoặc người được thi hành án và người phải thi hành án thỏa thuận được với nhau về việc thi hành án; hoặc tài sản của người phải thi hành án bị kê biên, bán đấu giá mà 11 có người mua ngay thì việc thi hành án sớm thực hiện xong. Ngược lại, nếu tài sản của người phải thi hành án bị kê biên, thông báo bán đấu giá nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc tài sản kê biên có tranh chấp phải khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết … thì việc thi hành án khó thực hiện xong một cách nhanh chóng.