phần mở đầu kết luận và danh mục tài liệu tham khảo cơ cấu của luận văn gồm a chương. Cụ thể như sau: Chƣơng 1: Những vấn đ lý luận v quy hoạch, k hoạch s d ng đất và pháp luật v quy hoạch, k hoạch s d ng đất Chƣơng 2: Thực trạng quy định pháp luật quy hoạch, k hoạch s d ng đất và thực ti n thi hành tại thành phố Vinh, t nh Ngh An Chƣơng 3: ột số giải pháp hoàn thi n và đảm ảo thực hi n pháp luật quy hoạch, k hoạch s d ng đất tại thành phố Vinh, t nh Ngh An. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 1. Những vấn ề lý luận về quy hoạch, kế hoạch sử dụng ất 1.
Khái niệ đ đi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất “ uy hoạch s d ng đất”, “ hoạch s d ng đất” là những thuật ngữ đã được sử dụng phổ biến trong Luật Đất đai năm 993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 998 và năm 00 ; Luật Đất đai năm 003. Tuy nhiên chỉ đến khi Luật đất đai năm 0 3 được ban hành, những thuật ngữ này mới được giải thích chính thức và cụ thể tại khoản 2, khoản 3 Điều 3 uật Đất đai năm 0 3. QH H DĐ là một trong những hoạt động phân phối điều phối đất đai của Nhà nước thể hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thực hiện chức năng quản lý đất đai của Nhà nước. Khái ni m, đ c điểm quy hoạch s d ng đất X t về mặt thuật ngữ quy hoạch được hiểu là “sự bố trí sắp x p toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong t ng thời gian, làm cơ sở cho vi c lập k hoạch dài hạn” [43, tr.
Theo một cách giải thích khác quy hoạch được định nghĩa là “vi c ph n ố, sắp p các hoạt động và các y u tố sản uất, ịch v và đời sống trên một địa àn l nh thổ cho một m c đ ch nhất định trong một thời trung hạn, ài hạn để c thể hóa chi n lược phát triển inh t - hội trên l nh thổ theo thời gian và là cơ sở để lập các hoạch phát triển” [9, tr. Như vậy dù theo cách hiểu nào thì khái niệm quy hoạch cũng có điểm chung đó chính là sự ố trí và sắp xếp. Đó là các hoạt động mang tính chủ ý của con người nh m ố trí sắp xếp theo mục đích nhất định trong từng khoảng thời gian nhất định. Quy hoạch mang tính định hướng chung cho các hoạt động triển khai trong các lĩnh vực cụ thể theo từng giai đoạn.
Trong mọi lĩnh vực quy hoạch có vai trò định hướng chung cho các hoạt động cụ thể đó. Khi nghiên cứu về QH DĐ có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau: - Có quan điểm cho r ng QH DĐ đơn thuần là các biện pháp kỹ thuật nh m thực hiện việc đo đạc, v lại bản đồ hiện trạng sử dụng đất, phân chia diện tích đất, giao đất cho các ngành lĩnh vực [30, tr.23] - Theo Dent (1988; 993) QH DĐ như là phương tiện giúp cho lãnh đạo quyết định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho 7 việc chọn mẫu hình trong sử dụng đất, mà trong sự lựa chọn này s đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, và từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai [42, tr. Vậy, theo cách tiếp cận này QH DĐ là iện pháp pháp chế mà Nhà nước thực hiện nh m bảo đảm chế độ quản lý và sử dụng đất theo pháp luật tổ chức sử dụng đất đai như một tư liệu sản xuất đặc biệt coi đất như đối tượng của các quan hệ xã hội trong sản xuất. - Trong phương pháp tổng hợp và người sử dụng đất đai là trung tâm (UNCED 99 ; trong F O 993) đã tiếp cận theo hướng hoàn chỉnh hơn định nghĩa như sau: " SDĐ là một ti n trình xây dựng những quy t định để đưa đ n những hành động trong vi c ph n chia đất đai cho s d ng để cung cấp những cái lợi b n vững nhất" (FAO,1995) [42].
Vậy theo cách tiếp cận này, QH DĐ là biện pháp kinh tế nh m khai thác triệt để và có hiệu quả cao tiềm năng của đất đai. Như vậy với các cách tiếp cận trên thì ản chất của QH DĐ không được thể hiện đúng và đầy đủ. QH DĐ không chỉ đơn thuần là biện pháp kỹ thuật mà nó còn là biện pháp pháp chế và biện pháp kinh tế. Điều này thể hiện QH DĐ chính là việc phân tích tổng hợp về sự phân bố địa lý của các điều kiện tự nhiên, KT - XH để tổ chức lại việc sử dụng đất theo pháp luật nh m đáp ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và tương lai của xã hội một cách tiết kiệm, khoa học và có hiệu quả.
Các văn ản pháp luật trước đây và uật Đất đai năm 003 chưa định nghĩa cụ thể về khái niệm QH DĐ. Tuy nhiên, Luật đất đai năm 0 3 ra đời đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm pháp lý về QH DĐ tại khoản Điều 3 như sau: “ uy hoạch s ng đất là vi c phân bổ và khoanh vùng đất đai theo hông gian s d ng cho các m c tiêu phát triển kinh t - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo v môi trường và thích ứng bi n đổi khí hậu trên cơ sở ti m năng đất đai và nhu cầu s d ng đất c a các ngành, lĩnh vực đối với t ng vùng kinh t - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian ác định”. Từ khái niệm trên có thể rút ra một số đặc điểm của QH DĐ như sau: hứ nhất QH DĐ chính là việc Nhà nước phân ổ và khoanh vùng đất đai thông qua các iện pháp mang tính kỹ thuật như điều tra khảo sát đo đạc xử lý số liệu xây dựng ản đồ nh m xác định quy mô diện tích đất mục đích sử dụng của từng loại đất để phân bổ cho từng khu vực địa lý, từng ngành nghề lĩnh vực của xã hội. Việc phân bổ và khoanh vùng này nh m mục đích lựa chọn các phương án sử dụng đất tối ưu nhất.
8 hứ hai QH DĐ được xây dựng gắn liền với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội quốc phòng an ninh ảo vệ môi trường và thích ứng iến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai nhu cầu sử dụng đất. Vì vậy khi lập QH DĐ cần phải quan đến nhiều lĩnh vực như khoa học tự nhiên khoa học xã hội dân số và đất đai sản xuất nông nghiệp công nghiệp môi trường sinh thái Do đó QH DĐ chính là tổng hòa của nhiều ngành nhiều lĩnh vực nên nó có tính toàn diện. QH DĐ chính là hoạt động phân phối đất đai ở tầm vĩ mô. QH DĐ là sự định hướng chiến lược cho công tác quản lí và sử dụng đất trong tương lai, gắn liền với định hướng phát triển KT - XH của đất nước.
Các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô các chỉ tiêu quy hoạch càng khái quát thì quy hoạch càng ổn định. hứ a QH DĐ được xây dựng và thực hiện trong một khoảng thời gian cụ thể do Nhà nước xác định. hoảng thời gian này mang tính dài hạn. ỳ QH DĐ các cấp theo quy định pháp luật hiện hành là 0 năm.
Quy hoạch dài hạn nh m đáp ứng các nhu cầu về đất để phát triển KT - XH lâu dài. Với thời gian này QH DĐ hướng tới việc định hướng cho sự phát triển bền vững, mặt khác đảm bảo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trên cơ sở khoa học nh m quản lí và sử dụng đất đai một cách có hệ thống. hứ tư việc xác định thời hạn sử dụng đất căn cứ vào các dự áo xu thế iến động dài hạn của những yếu tố KT - XH quan trọng như sự thay đổi tiến ộ khoa học kỹ thuật quá trình đô thị hóa công nghiệp hóa hiện đại hóa nên QH DĐ mang tính ổn định. Điều này được biểu hiện cụ thể trong hoạt động thực tiễn như trước khi tiến hành lập quy hoạch các cơ quan có th m quyền s tổng hợp những nhu cầu về đất do các cấp các ngành các cơ quan đơn vị đề xuất.
Những đề xuất này chính là những dự báo của họ trong việc sử dụng đất cho từng mục tiêu phát triển. Do đó QH DĐ luôn có tính chất định hướng tính ổn định cho việc sử dụng đất trong một thời gian nhất định trong tương lai. Tuy nhiên khi xã hội phát triển khoa học kỹ thuật ngày càng tiến ộ chính sách và tình hình kinh tế thay đổi thì các chỉ tiêu dự kiến của QH DĐ không còn phù hợp nữa. Vì thế việc điều chỉnh ổ sung và hoàn thiện QH DĐ là điều cần thiết.
QH DĐ có tính khả iến nó là một quá trình lặp lại theo chu kỳ “quy hoạch - thực hi n - quy hoạch lại - ti p t c thực hi n ” với chất lượng và tính phù hợp với thực tiễn ngày càng cao hơn [30 tr. 9 hứ năm QH DĐ thể hiện r tính chính trị và chính sách xã hội. Tính chính trị thể hiện khi xây dựng QH DĐ cần phải quán triệt các chủ trương của Đảng và Nhà nước đảm ảo thực hiện đúng các chính sách pháp luật về đất đai. QH H DĐ được xây dựng và triển khai thực hiện phải đảm ảo phù hợp tuân thủ các chính sách của Nhà nước không trái với các quy định pháp luật đất đai.
Đồng thời QH DĐ cần phải tuân thủ các chỉ tiêu về dân số về đất đai và về môi trường sinh thái. QH DĐ là phương án đảm ảo cân ng nhu cầu sử dụng đất đảm ảo sản xuất và đời sống cho cộng đồng dân cư. Khái ni m, đ c điểm k hoạch s d ng đất Về mặt thuật ngữ kế hoạch được định nghĩa là “toàn bộ những đi u vạch ra một cách có h thống và c thể v cách thức, trình tự, thời hạn ti n hành những công vi c dự định làm trong một thời gian nhất định, với m c tiêu nhất định” [43 .