Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về quảng cáo thương mại trên báo in. Chương 2: Thực trạng pháp luật về quảng cáo thương mại trên báo in ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quảng cáo thương mại trên báo in ở Việt Nam. 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THƢƠNG MẠI TRÊN BÁO IN 1.
Khái quát về quảng cáo thƣơng mại trên báo in 1. Khái niệm và đặc điểm của báo in Báo in ra đời rất sớm ở các nước phương Tây, sau đó phát triển mạnh mẽ và truyền sang Việt Nam. Đó là một quy luật tất yếu, khách quan của sự toàn cầu hóa thông tin. Báo in là một loại hình báo chí, chuyển tải nội dung các vấn đề, sự kiện bằng văn bản, chữ viết, ký tự, hình ảnh thông qua trang giấy để cung cấp thông tin cho độc giả.
Báo in bao gồm: báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn (theo Điều 3 Luật Báo chí hiện hành). Việc tiếp nhận thông tin của công chúng đối với báo in chỉ qua thị giác – giác quan quan trọng nhất của con người với thế giới xung quanh. Chính vì vậy, báo in có những đặc điểm sau: Thứ nhất, người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo in. Người đọc có thể tiếp nhận thông tin qua việc tự do lựa chọn thời điểm đọc, cách đọc, tốc độ đọc.
Về thời điểm đọc, mỗi người có thể đọc báo in bất cứ lúc nào, khác với phát thanh và truyền hình, người nghe phải phụ thuộc vào chương trình phát sóng của các đài này. Về tốc độ đọc, người đọc báo in có thể đọc chậm rãi hay lướt qua hoặc chú tâm vào các chi tiết, khác với phát thanh, truyền hình thì sẽ tùy vào việc đưa thông tin và cách đọc của biên tập viên. Về cách đọc, người đọc báo in có thể tự do lựa chọn thông tin nào mình nên đọc trước hoặc cũng có thể đọc theo sở thích của mình. Điều này làm cho báo in có khả năng thông tin những nội dung phức tạp và sâu sắc hơn.
Thứ hai, sự tiếp nhận thông tin từ báo in là chủ động nên đòi hỏi người đọc cũng phải tập trung cao độ, phải sự động sự làm việc tích cực của trí não. Vì thế, báo in có thể tăng khả năng ghi nhớ thông tin ở người đọc, giúp người đọc có thể nhận thức sâu sắc mối quan hệ bên trong phức tạp và tế nhị của các vấn đề, sự kiện. Hơn nữa, nguồn thông tin từ báo in tuy có chậm hơn so với các loại hình báo chí khác nhưng đảm bảo độ chính xác cao vì thông tin đã được kiểm định. Ngày nay, báo in đã 7 trở thành nguồn tài liệu quý giá đối với người đọc vì những thông tin chính xác mà báo in đưa đến cho người đọc.
Ngoài ra, báo in còn có thể làm tài liệu, minh chứng cho các công trình nghiên cứu khoa học. Với những đặc điểm trên thì báo in có những ưu điểm và hạn chế như sau: Về ưu điểm, báo in có khả năng lưu trữ thông tin cao nhất là lưu trữ trong trí não của người đọc. Vì khi người đọc tiếp nhận thông tin qua mắt đồng thời lúc đó, trí não cũng hoạt động nên người đọc sẽ tập trung được mọi ý nghĩ trong tờ báo để có thể tiếp nhận thông tin đầy đủ, chính xác. Khác với phát thanh hoặc truyền hình, thính giả và khán giả có thể xem mà không tập trung các giác quan, trí não của mình nên có thể dẫn đến sự tiếp nhận những thông tin là không đầy đủ và không hiệu quả bằng báo in.
Đây là điểm mạnh để báo in hơn hẳn các báo khác. Một điểm mạnh nữa của báo in là báo in có khả năng phân tích, bình luận, lý giải sâu rộng, đầy đủ các vấn đề, sự kiện. Đây được đánh giá là điểm mạnh đặc trưng nhất của báo in mà đến nay không loại hình báo chí nào có thể làm được điều này. Các loại hình báo chí có sự tác động đến công chúng khác nhau sẽ tạo ra những hiệu ứng khác nhau.
Trong đó, báo in tác động đến công chúng tiếp nhận bằng sự đồng hiện thông tin, sự tiếp nhận bằng thị giác, đưa thông tin trong các bình luận, đánh giá có chiều sâu qua đó tạo nên tính sâu sắc trong truyền đạt thông tin và tác động mạnh mẽ đến tư duy của công chúng tiếp nhận. Như vậy, muốn chứng kiến tận mắt một sự kiện, hiện tượng nào đó, người ta xem truyền hình. Còn muốn đi tìm hiểu sâu sắc, cặn kẽ về nguyên nhân, kết quả, đánh giá sự kiện nào đó, người ta tìm đến báo in. Chính vì ưu thế đó mà đã giúp báo in có thể đứng vững, ngày càng phát triển và cạnh tranh với các loại hình báo chí khác trong thời đại công nghệ thông tin như ngày nay.
Ngoài ra, báo in rất đa dạng về chủng loại bao gồm: Nhật báo, tuần báo, nguyệt san, đặc san, phụ san, nội san, tập san, bản tin và các loại tạp chí khác. Có thể khẳng định, không có loại hình báo chí nào theo kịp báo in về mặt này. Về hạn chế, bên cạnh những điểm mạnh thì báo in vẫn còn những hạn chế nhất định như: (i) Độ nhanh và tính thời sự của báo in bị hạn chế, khả năng phát tán thông tin chưa cao. Do báo in chỉ xuất hiện ở một thời điểm cụ thể, nhất định với nội dung đề 8 cập đến các vấn đề, sự kiện trong cả một chu kỳ xuất bản; (ii) Báo in thường có sự đơn điệu trong cách thể hiện nội dung.
Điều này có thể làm cho người đọc giảm hứng thú nếu nội dung thông tin, không tạo được sự chú ý; (iii) Việc phát hành báo in được thực hiện theo hình thức trao tay. Vì vậy, báo in truyền đạt thông tin đến người đọc sớm hay muộn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển giao thông và các phương tiện chuyên chở, phân phối báo in. Thêm vào đó, sự tương tác giữa báo in và độc giả thấp hợp sự tương tác trên truyền hình, đài phát thanh và các trang điện tử. Ngày nay, người ta ít dành thời gian để đọc báo in, đặc biệt là giới trẻ.
Tóm lại, trên thực tế, báo in vẫn đang khẳng định được vị trí của mình trong lòng độc giả. Hiện nay, báo in đang đứng trước một cuộc cạnh tranh khốc liệt với các loại hình báo chí khác như phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử.Với những điểm hạn chế trên, một vài nhà nghiên cứu đã tiên đoán rằng báo in sẽ bị phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử thay thế hoàn toàn vào cuối thế kỷ XX. Tuy nhiên, đến thế kỷ XXI, thực tế, báo in vẫn đang tồn tại song song với các loại hình báo chí khác, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền báo chí Việt Nam nói riêng và báo chí thế giới nói chung. Với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, báo in đang nỗ lực phát huy hết những điểm mạnh của mình và cố gắng khắc phục điểm hạn chế.
Hy vọng trong tương lại, báo in sẽ biết cách theo kịp thông tin của thời đại và đứng vững trên nền thị trường báo chí. Khái niệm và đặc điểm của quảng cáo thương mại trên báo in Theo các nghiên cứu khảo cổ của các nhà khoa học trên thế giới, quảng cáo thương mại đã có từ lâu đời. Từ phương Tây sang phương Đông, từ châu lục này qua châu lục khác đều có dấu hiệu của quảng cáo thương mại dù ở dạng thô sơ nhất. Theo Từ Điển Bách Khoa Vương Quốc Anh (Encyclopedia Britanica), 1000 năm trước Công Nguyên, ở vùng đồng bằng Mesopotamia khu vực Lưỡng Hà đã có bảng quảng cáo bằng đất nung đặt tiền thưởng cho ai tìm được một nô lệ bỏ trốn.
Ở Châu Á, Trung Hoa dường như đã biết đến quảng cáo từ thời Tây Chu (thế kỷ 11 đến 771 trước Công Nguyên) qua những hội chợ đầu tiên (Hong Cheng, trong Jones, J. Địa Trung Hải cũng là khu vực được phát hiện có dấu hiệu của những thông tin 9 quảng cáo từ rất sớm. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra những dấu hiệu của những thông báo về các sự kiện, các lời chào bán hàng vẽ lên tường, các bức tranh ca ngợi hàng hóa vẽ lên các tảng đá lớn dọc phố, các bài hát quảng cáo… ở các quốc gia bên bờ Địa Trung Hải [25, tr.Với những phát hiện như vậy, có thể thấy từ xa xưa con người đã biết ca ngợi và khuếch trương những sản phẩm của mình với mong muốn đông đảo mọi người biết đến thông tin, hàng hóa… từ đó có thể đem lại một khoản lợi nhất định cho người quảng cáo. Quảng cáo thương mại lúc đó tuy còn đơn giản nhưng đã xuất hiện ở khắp nơi đến nỗi tính phổ quát của nó đã được nhà quảng cáo Pháp Robert Guérin thậm xưng: “Khí trời gồm có dưỡng khí, khí nitơ và…quảng cáo”[25, tr.
Người ta còn ví quảng cáo thương mại như “luồng gió thổi cho máy xay gió kinh tế chạy được”. Xuất hiện từ xa xưa với hình thức còn thô sơ, qua bao nhiêu thời gian, xuyên suốt khắp các hình thái xã hội, quảng cáo đã dần hoàn thiện với nhiều hình thức đa dạng và phong phú hơn, bên cạnh đó đặc trưng của nó cũng dần được hình thành rõ nét. Cho đến ngày nay, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, ngành công nghiệp quảng cáo đã phát triển vô cùng mạnh mẽ, đóng góp rất nhiều vào sự tăng trưởng của nền kinh tế, thực sự là “luồng gió cho máy xay gió kinh tế chạy được”. Chính vì xuất hiện từ rất sớm và được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau, khá niệm quảng cáo thương mại có rất nhiều định nghĩa.
Có thể kể đến một vài định nghĩa quảng cáo thương mại như sau: Ở cách tiếp cận ngôn ngữ học: Trong tiếng La- tinh, từ "quảng cáo" (adverture) có nghĩa là sự thu hút lòng người, là gây sự chú ý và gợi dẫn. Trong Từ điển Tiếng việt, ”quảng cáo” được định nghĩa là ”trình bày để giới thiệu rộng rãi đến nhiều người biết nhằm tranh thủ được nhiều khách hàng” [48, tr. Ở cách tiếp cận về mặt xã hội học, quảng cáo thương mại là quá trình truyền tin có định hướng tới người mua để kích thích họ hành động mua sản phẩm và dịch vụ mà quảng cáo đã giới thiệu và đề xuất [34, tr.