chương 1 của luận án. Phương pháp thống kê được tác giả đưa ra khi thể hiện các số liệu tại chương 3 về thực tiễn thi hành pháp luật về QCTM. Ngoài ra, việc xin và tiếp thu ý kiến của các chuyên gia, người hướng dẫn khoa học, nội dung phản biện của Hội đồng Bảo vệ luận án cấp cơ sở, ý kiến của Phản biện 14 độc lập cũng đã gi p tác giả có những định hướng nghiên cứu trong suốt quá trình hoàn thiện luận án của mình. Câu hỏi và giả thiết nghiên cứu 1.
Ở góc độ lý luận - Câu hỏi nghiên cứu 1: QCTM là gì? - Giả thiết nghiên cứu 1: Hiện nay, các quốc gia có những quan điểm khác nhau về khái niệm QCTM, có sự khác biệt này là do yếu tố lịch sử và quan điểm lập pháp của mỗi quốc gia. Có những quốc gia đồng nhất khái niệm là QCTM đồng nhất với quảng cáo, cũng có quốc gia xem QCTM là một bộ phận của quảng cáo. Cơ sở có sự phân định dựa vào tính chất thương mại hoặc phi thương mại của hoạt động này. Tuy nhiên, mỗi cách hiểu có những ưu, khuyết điểm riêng và mặt trái của nó là tạo nên sự chồng chéo không đáng có trong việc ban hành cũng như thực hiện pháp luật của các chủ thể.
- Kết quả nghiên cứu 1: Tác giả xây dựng một khái niệm pháp lý QCTM phù hợp với điều kiện tình hình mới và phù hợp với xu hướng chung của pháp luật quốc tế. - Câu hỏi nghiên cứu 2: Bản chất và đặc trưng của hoạt động QCTM? - Giả thiết nghiên cứu 2: Vấn đề bản chất và đặc trưng của hoạt động QCTM đã được phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau trong nhiều công trình nghiên cứu có liên quan. Tuy nhiên, những nghiên cứu này vẫn chưa đánh giá hết những đặc trưng vốn có và bản chất của hoạt động này. Nội dung nghiên cứu của tác giả là một sự bổ sung, kh ng định cho phù hợp với khái niệm QCTM mà tác giả vừa xây dựng được trong nội dung luận án.
- Kết quả nghiên cứu 2: Nội dung nghiên cứu của tác giả là một sự bổ sung, kh ng định cho phù hợp với khái niệm QCTM mà tác giả vừa xây dựng được trong nội dung luận án. - Câu hỏi nhiên cứu 3: Pháp luật về QCTM là gì? Nội dung của pháp luật về QCTM? - Giả thiết nghiên cứu 3: Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm và nội dung pháp luật QCTM, trên cơ sở phân tích những cơ sở lý luận cũng như tiếp thu những kinh nghiệm trên thế giới, tác giả xây dựng một nội dung của pháp luật về QCTM. 15 - Kết quả nghiên cứu 3: Với nội dung của pháp luật về QCTM hiện nay, kết quả nghiên cứu của tác giả là sự kh ng định, bổ sung và sắp xếp lại theo một trình tự phù hợp, từ đó làm cơ sở cho việc hệ thống hóa và pháp điển hóa pháp luật nói chung và pháp luật về QCTM nói riêng trong tình hình mới. Ở góc độ luật thực định - Câu hỏi nghiên cứu: Pháp luật điều chỉnh về chủ thể QCTM, đối tượng QCTM, sản phẩm QCTM, phương tiện QCTM hiện nay như thế nào? Điều chỉnh này đã hợp lý chưa? Bất cập chỗ nào? Nguyên nhân vì sao có bất cập này.
- Giả thiết nghiên cứu: Do tính chất đa dạng của hoạt động QCTM, pháp luật điều chỉnh của hoạt động này cũng rất phức tạp, vì thế, những bất cập là không tránh khỏi. - Kết quả nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá thực trạng những quy định của pháp luật trong lĩnh vực này, tác giả đã chỉ ra được những tồn tại, bất cập, chỉ ra nguyên nhân và từ đó làm cơ sở đề xuất những giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật ngày càng phù hợp hơn và toàn diện hơn. Đề xu t và kiến nghị - Câu hỏi nghiên cứu: Với những tồn tại và bất cập đã được nghiên cứu, đánh giá thì pháp luật cần phải có những phương hướng, giải pháp gì cho việc giải quyết những bất cập này? - Giả thuyết nghiên cứu: Hiện nay, pháp luật về QCTM thương mại và thực tiễn thực hiện pháp luật về QCTM thương mại vẫn còn nhiều bất cập chưa được giải quyết hoặc chưa có phương hướng giải quyết đ ng đắn. Điều này đã gây ảnh hưởng rất lớn đến những quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quá trình thực hiện QCTM thương mại, gián tiếp gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
- Kết quả nghiên cứu: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đánh giá về những bất cập, căn cứ vào điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa nước ta trong thời kỳ hội nhập và dựa trên những triết lý QCTM thể hiện sự tiến bộ và phù hợp với xu thế chung của thế giới, tác giả đề xuất, kiến nghị một số những giải pháp căn bản và chi tiết nhằm góp phần giải quyết một số vấn đề bất cập trước mắt và những quy định mang tính dự liệu, đón đầu những quan hệ phát sinh trong lĩnh lực này xảy ra trong tương lai. 16 Chƣơng 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢNG CÁO THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THƢƠNG MẠI 2. Tổng quan về quảng cáo thƣơng mại 2. Khái niệm và đặc điểm quảng cáo thương mại Quảng cáo nói chung ngày nay đã trở thành hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.
Theo Từ điển tiếng Việt, quảng cáo được giải nghĩa là sự trình ày để giới thiệu rộng rãi cho nhiều người iết nhằm tranh thủ được nhiều khách hàng [ 28, tr. Quảng cáo với tư cách là một hoạt động trong nền kinh tế, xã hội được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo cách tiếp cận về mặt xã hội học, quảng cáo là quá trình truyền tin có định hướng tới người mua để kích thích họ hành động mua sản phẩm và dịch vụ mà quảng cáo đã giới thiệu và đề xuất; theo cách tiếp cận của kinh tế học, quảng cáo là cách trình bày cho đông đảo khách hàng có được những hiểu biết cần thiết về hàng hoá, dịch vụ và uy thế của doanh nghiệp bằng các phương tiện thông tin đại ch ng; theo cách tiếp cận về mặt hành vi, quảng cáo là việc các chủ thể sử dụng phương tiện thông tin để truyền tin về sản phẩm dịch vụ tới các phần tử trung gian hoặc tới các khách hàng cuối cùng trong một khoảng thời gian và không gian nhất định; theo cách tiếp cận về mặt quản lý, quảng cáo là công cụ của chính sách thương mại được áp dụng một cách có kế hoạch để tuyên truyền về mặt kinh tế tới khách hàng… Ch ng ta có thể hiểu quảng cáo là hình thức đặc iệt của thông tin xã hội được trả tiền, nhằm mục đích thay đổi cơ cấu nhu cầu, mối quan tâm của con người và thúc đẩy họ tới hành động mà nhà cung cấp quảng cáo mong muốn. Trong suốt quá trình tồn tại của mình, quảng cáo vẫn luôn thể hiện chức năng thông tin và được thực hiện theo những chủ đích nhất định của người quảng cáo. Nhờ thông tin quảng cáo, chủ thể thực hiện quảng cáo sẽ cung cấp những nội dung, hiểu biết nhất định tới một hoặc một nhóm đối tượng.
Nội dung thông tin được chuyển tải trong hoạt động quảng cáo rất đa dạng, có thể là thông tin về sản phẩm, dịch vụ; thông tin về một tổ chức, cá nhân, thông tin về một cuộc vận động chính trị hay một chương trình xã 17 hội. Những nội dung này đáp ứng nhu cầu thông tin của các nhóm, các bộ phận khác nhau trong xã hội, góp phần hình thành hệ thống thông tin chung cho xã hội. Hiện nay, phần lớn các quốc gia trên thế giới chỉ giải thích về thuật ngữ quảng cáo mà không khái niệm về QCTM. Điều này cũng dễ hiểu, vì theo pháp luật các nước trên thế giới, quảng cáo là hoạt động thường gắn liền với yếu tố lợi nhuận, mang tính thương mại và chủ yếu được thực hiện bởi các thương nhân, do vậy khi nhắc đến khái niệm “quảng cáo cũng là đang nói về “quảng cáo thương mại.
Với tư cách là một loại của hoạt động quảng cáo, QCTM mang đầy đủ những đặc điểm của một quảng cáo nói chung. Khái niệm về QCTM và quảng cáo có thể được hiểu khác nhau hoặc đồng nhất nhau tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội thể hiện trong quan điểm lập pháp của từng quốc gia.