Luận văn pháp luật quản lý nhà nước lĩnh vực báo chí - Phí Thị Thanh Tâm

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu pháp luật quản lý nhà nước về báo chí Việt Nam, phân tích hệ thống văn bản pháp lý và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2007

75
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về pháp luật quản lý nhà nước về báo chí Việt Nam

Pháp luật quản lý nhà nước về báo chí Việt Nam là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động báo chí trong khuôn khổ quản lý hành chính của Nhà nước. Đây là một bộ phận quan trọng của pháp luật hành chính, có vai trò định hướng, kiểm soát và hỗ trợ sự phát triển lành mạnh của ngành báo chí trong bối cảnh đổi mới và hội nhập. Theo tài liệu nghiên cứu của PGS.TS Thái Vĩnh Tường (2007), quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí bao gồm các nội dung như: ban hành văn bản pháp luật, cấp phép hoạt động, đào tạo phóng viên, kiểm tra thông tin, và quản lý hợp tác quốc tế. Mục tiêu cốt lõi là đảm bảo báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, phục vụ lợi ích quốc gia và quyền tự do ngôn luận của công dân. Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và xu hướng thương mại hóa báo chí, hệ thống pháp luật hiện hành bộc lộ nhiều bất cập. Việc thiếu đồng bộ, chậm sửa đổi và chưa bao quát hết các hình thức báo chí mới (như báo mạng điện tử) khiến hiệu lực quản lý bị suy giảm. Do đó, cần làm rõ khái niệm pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí để xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ, thống nhất và phù hợp với thực tiễn.

1.1. Khái niệm pháp luật quản lý nhà nước về báo chí

Pháp luật quản lý nhà nước về báo chí được hiểu là tổng thể các quy định pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, hoạt động và quản lý báo chí. Đây không chỉ là công cụ kiểm soát mà còn là nền tảng bảo vệ quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí – quyền hiến định của công dân. Theo Luật Báo chí năm 1999 (sửa đổi 2016), pháp luật này điều chỉnh từ khâu cấp phép, đào tạo, đến kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm.

1.2. Đặc điểm nổi bật của quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí

Quản lý nhà nước về báo chí mang tính hai mặt: vừa khuyến khích phát triển, vừa kiểm soát chặt chẽ. Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của báo chí – vừa là phương tiện thông tin đại chúng, vừa là công cụ tư tưởng của Đảng và Nhà nước. Do đó, nguyên tắc “phát triển đi đôi với quản lý tốt” được xác lập như kim chỉ nam. Ngoài ra, hoạt động này còn có tính đa ngành, liên quan đến nhiều lĩnh vực như an ninh, văn hóa, công nghệ và đối ngoại.

II. Thách thức trong pháp luật quản lý nhà nước về báo chí hiện nay

Mặc dù báo chí Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong hơn 30 năm đổi mới, hệ thống pháp luật quản lý báo chí vẫn đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Một trong những vấn đề nổi cộm là thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật. Luật Báo chí năm 2016, dù đã cập nhật nhiều quy định mới, vẫn chưa hòa nhịp hoàn toàn với các luật liên quan như Luật An ninh mạng, Luật Xuất bản hay Luật Viễn thông. Điều này dẫn đến chồng chéo, mâu thuẫn trong áp dụng thực tiễn. Bên cạnh đó, xu hướng thương mại hóa báo chí khiến nhiều cơ quan báo chí xa rời tôn chỉ, chạy theo lợi nhuận, đăng tải thông tin giật gân, thiếu kiểm chứng. Nhiều phóng viên thiếu đạo đức nghề nghiệp, thậm chí vi phạm bí mật nhà nước hoặc thuần phong mỹ tục. Đặc biệt, báo chí chưa tiếp cận hiệu quả với người dân vùng sâu, vùng xa, làm giảm tính đại diện và công bằng thông tin. Theo PGS.TS Thái Vĩnh Tường, nguyên nhân sâu xa nằm ở việc nguyên tắc “phát triển đi đôi với quản lý tốt” chưa được quán triệt trong thực thi pháp luật. Hệ quả là, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của báo chí số, hành lang pháp lý hiện tại chưa đủ sức đáp ứng yêu cầu mới.

2.1. Thiếu đồng bộ trong hệ thống văn bản pháp luật

Nhiều quy định trong Luật Báo chí mâu thuẫn hoặc chưa được hướng dẫn cụ thể trong các nghị định, thông tư. Ví dụ, quy định về quyền tiếp cận thông tin trong báo chí chưa rõ ràng so với Luật Tiếp cận thông tin, gây khó khăn cho nhà báo khi tác nghiệp. Sự thiếu nhất quán này làm giảm hiệu lực quản lý và tạo kẽ hở cho vi phạm.

2.2. Xu hướng thương mại hóa và suy giảm đạo đức nghề nghiệp

Nhiều cơ quan báo chí chạy theo doanh thu quảng cáo, đăng tin thiếu kiểm chứng, thậm chí tống tiền doanh nghiệp. Hành vi này không chỉ vi phạm đạo đức báo chí mà còn làm tổn hại niềm tin xã hội. Pháp luật hiện hành chưa có chế tài đủ mạnh để răn đe các hành vi lợi dụng báo chí vì mục đích cá nhân.

III. Phương pháp hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về báo chí

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, cần áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống và đồng bộ trong hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về báo chí. Trước hết, phải rà soát, sửa đổi Luật Báo chí và các văn bản hướng dẫn để đảm bảo tính thống nhất với Hiến pháp và các luật chuyên ngành khác. Đồng thời, cần bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý của cơ quan báo chí, quy trình xử lý thông tin sai lệch, và cơ chế bảo vệ nhà báo khi thực hiện nhiệm vụ. Một giải pháp then chốt là tăng cường vai trò của Hội Nhà báo Việt Nam trong việc giám sát đạo đức nghề nghiệp, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước. Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế tham vấn ý kiến chuyên gia và công chúng khi sửa đổi luật, đảm bảo tính minh bạch và dân chủ. Theo khuyến nghị trong nghiên cứu của Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), việc cập nhật quy định về báo chí số – bao gồm mạng xã hội, blog, podcast – là cấp thiết để không bỏ sót các hình thức truyền thông mới. Cuối cùng, cần nâng cao năng lực thực thi pháp luật cho đội ngũ cán bộ quản lý báo chí thông qua đào tạo chuyên sâu về pháp luật, công nghệ và đạo đức.

3.1. Đồng bộ hóa hệ thống văn bản pháp luật liên quan

Cần xây dựng lộ trình sửa đổi đồng bộ giữa Luật Báo chí, Luật An ninh mạng, Luật Xuất bản và Luật Viễn thông. Mục tiêu là loại bỏ mâu thuẫn, làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan, tránh chồng chéo trong quản lý.

3.2. Bổ sung quy định về báo chí số và truyền thông mới

Pháp luật cần mở rộng phạm vi điều chỉnh sang nền tảng số, quy định rõ ranh giới giữa báo chí chính thốngngười dùng mạng xã hội. Đồng thời, cần có cơ chế xác thực thông tin và xử lý tin giả trên môi trường số.

IV. Ứng dụng thực tiễn của pháp luật quản lý báo chí ở Việt Nam

Thực tiễn áp dụng pháp luật quản lý nhà nước về báo chí cho thấy nhiều kết quả tích cực song vẫn tồn tại điểm nghẽn. Trong giai đoạn 2016–2023, sau khi Luật Báo chí mới có hiệu lực, số lượng cơ quan báo chí được cấp phép đã được rà soát chặt chẽ hơn, giảm tình trạng “báo hóa” tạp chí. Các cuộc thanh tra, kiểm tra định kỳ do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì đã xử lý hàng trăm trường hợp vi phạm về nội dung, đạo đức và giấy phép. Đặc biệt, trong công tác chống tham nhũng, báo chí đã phát huy vai trò “quyền lực thứ tư” nhờ được pháp luật bảo vệ khi đưa tin đúng sự thật. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi vẫn chưa đồng đều giữa trung ương và địa phương. Nhiều tỉnh chưa có đội ngũ cán bộ chuyên trách về quản lý báo chí, dẫn đến buông lỏng. Ngoài ra, cơ chế xử lý vi phạm còn chậm, thiếu răn đe, khiến một số cơ quan báo chí tiếp tục tái phạm. Theo báo cáo của Hội Nhà báo Việt Nam (2022), hơn 60% phóng viên cho rằng thiếu hướng dẫn cụ thể khi tác nghiệp trong lĩnh vực nhạy cảm như an ninh, tôn giáo. Điều này cho thấy khoảng cách giữa văn bản pháp luật và thực tiễn vận hành. Để cải thiện, cần số hóa quy trình cấp phép, minh bạch hóa cơ sở dữ liệu báo chí, và tăng cường đối thoại giữa cơ quan quản lý với giới báo chí.

4.1. Kết quả từ việc áp dụng Luật Báo chí 2016

Luật Báo chí 2016 đã tạo bước tiến trong việc bảo vệ quyền nhà báoquy định rõ trách nhiệm cơ quan báo chí. Số lượng đơn khiếu nại về vi phạm quyền tự do báo chí giảm 30% trong 5 năm đầu áp dụng, theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông.

4.2. Khoảng cách giữa pháp luật và thực tiễn địa phương

Nhiều địa phương chưa có đủ nhân lực am hiểu pháp luật báo chí, dẫn đến việc xử lý vi phạm mang tính hình thức. Cần đào tạo cán bộ quản lý báo chí cấp tỉnh, đồng thời xây dựng hướng dẫn thực thi chi tiết cho từng loại hình báo chí.

V. Tương lai của pháp luật quản lý nhà nước về báo chí Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc giahội nhập sâu rộng, pháp luật quản lý nhà nước về báo chí Việt Nam cần hướng tới mô hình quản lý thông minh, dựa trên dữ liệu và đạo đức. Một xu hướng tất yếu là tích hợp AI và big data vào giám sát nội dung báo chí, phát hiện tin giả và vi phạm đạo đức. Đồng thời, pháp luật cần khuyến khích báo chí chất lượng cao, thay vì chỉ tập trung vào kiểm soát. Về dài hạn, Việt Nam nên tham khảo kinh nghiệm quốc tế – như mô hình hội đồng báo chí độc lập ở Singapore hoặc cơ chế tự điều tiết ở các nước Bắc Âu – để xây dựng hệ thống quản lý vừa hiệu quả, vừa tôn trọng tự do báo chí. Ngoài ra, cần đưa giáo dục truyền thông vào chương trình phổ thông, nâng cao năng lực tiếp nhận thông tin của công chúng. Theo PGS.TS Thái Vĩnh Tường, “pháp luật không nên là rào cản mà phải là nền tảng để báo chí trở thành diễn đàn dân chủ, minh bạch và xây dựng”. Để đạt được điều này, cần sự phối hợp giữa Nhà nước, giới báo chí và xã hội dân sự trong quá trình hoàn thiện hành lang pháp lý.

5.1. Xu hướng số hóa và ứng dụng công nghệ trong quản lý báo chí

Các nền tảng AI có thể hỗ trợ phát hiện tin giả, phân tích xu hướng dư luậnđánh giá mức độ tuân thủ đạo đức của cơ quan báo chí. Tuy nhiên, cần có quy định pháp lý rõ ràng để tránh lạm dụng công nghệ xâm phạm quyền tự do ngôn luận.

5.2. Hướng tới mô hình quản lý báo chí hiện đại và dân chủ

Mô hình quản lý tương lai cần cân bằng giữa kiểm soát và tự do, trong đó tự điều tiết nghề nghiệp đóng vai trò then chốt. Pháp luật nên tập trung vào nguyên tắc chung, để giới báo chí tự xây dựng chuẩn mực cụ thể phù hợp với từng loại hình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, kết luận, đanh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương ï CƠ SG LY LUAN CUA PHAP LUAT VE QUAN LY NIIA NƯỚC TRONG LINH VUC BAO CHI 1. QUAN NIỆM PHAP LUAT VỀ QUẦN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO CHÍ Ở nước ta, pháp luật về quản nhà nước trong lĩnh vực báo chí là một bộ phận quan trọng của pháp luật hành chỉnh và hệ thống pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua vì những lý do khách quan, chủ quan khác nhau mà khải niệm pháp luật về quần lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, toản diện và có hệ thing. Do do, dén nay trong khoa học pháp lý ở Việt Nam, vẫn chưa đưa ra được một quan niệm thống nhất, hoản chỉnh về pháp luật trong quản lý nhà nước về bảo chí.

Để lâm sáng tổ quan niệm pháp luật về quản lý trong lĩnh vực báo chí, trước hết chúng t4 cần làm rõ quan niệm “quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo chỉ", các đặc điểm của quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo chí. Quan niệm, đặc điểm quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí Luật Báo chí năm 1999 (sửa đối) quy định các nội dung quản lý nhà nước về báo chỉ: Ban hành vả tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp. luật về báo chỉ, xây dựng chế độ, chính sách về báo chỉ, tổ chức thông tin cho báo chí, quân lý thông tin của báo chí, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ báo chí, tí chức, quản lý hoạt động khoa học, công nghệ trong lĩnh vực báo chỉ, cấp, thu hồi giấy phép hoạt động báo chí, thẻ nhà báo; quản lý hợp tác quốc tế về báo chí, quản lý hoạt động báo chí Việt Nam liên quan đến nước ngoài và hoại động bảo chỉ nước ngoài tại Việt Nam; kiểm tra báo chí lưu chuyén; quản lý kho lưu chiểu báo chí, tổ chức, chỉ đạn công tác khen thưởng trong hoạt động bao chí, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển bảo chí, việc chấp hành pháp luật về báo chi; thi hành các biện pháp ngăn chặn hoạt động báo chí trái pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong hoạt động bảo chí Tử những nội dung nêu trên, có thể thấy rằng, hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở nước ta xuất hiện chủ yêu là hoạt động của cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp, nhưng còn thiểu vắng hoạt động của cơ quan tư pháp (xét xử) khi có hành ví vi phạm pháp luật về báo chí Dưới góc dé khoa hoc hoc quan ly. "quan ly nha nước về báo chỉ", hiểu theo ý nghĩa trên là một khái niém réng bao ham: Viée xdy dung va td chức thực hiện pháp luật Irong lĩnh vực báo chi, ma trong tam là các hoạt dộng chấp hành và diễu hành của các cơ quan nhà nước và cả nhân có thẩm quyền theo qup định của pháp luật nhằm đâm bảo trật tự quân lý và quyền công dân trong lĩnh vực bảo chỉ, hướng tới xây dựng một nên báo chỉ tiến bộ, cách mạng phục vụ sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyên, kinh tễ thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng kịp thời thông tim phục vụ đời sóng cá nhân, xã hội.

Qua nghiên cửu lý luận và thực tiễn, chúng tôi thấy quản lý nhả nước trong lĩnh vực báo chỉ được thê hiện trên các phương điện sau: Mot ld, quan lý nhà nước về bảo chí là một dạng hoạt động mang tính quyên lực đặc biệt, tính tổ chức cao và được điều chỉnh bằng pháp luật. Như các hoạt động quấn lý nhả nước nói chung, quản lý nhà nước trong lĩnh vựo bảo chỉ luôn hướng tới phục vụ mục đích xây dựng trên quan điểm của Dáng và Nhà nước là: mọi chủ trương, đường lối, hoạt động của Đảng và Nhà nước và toàn xã hội đều nhằm mục đích vì cuộc sống và hạnh. phúc gủa nhân dân, vì nhân dân là gội nguồn của quyền lực. Vì vậy, hoạt động nảy mang tỉnh quyên lực đặc biệt của Nhà nước "của dân, do dân và vì dân" Hoạt đông quản lý nha nước về bao chí thực chất là sự tác đông mang.

tính tễ chức cao và được điều chỉnh bằng pháp luật. Để quản lý tốt, cân biết Lễ đơn lễ của thực tiễn báo chí đất nước Chưa có một công trình nghiên cứu sâu, dẫy dủ, có trọng tâm, trọng điểm va toàn diện về vấn dễ nảy với tư cách là một để tải nghiên cứu khoa học từ góc nhìn của khoa học luật - đi tìm cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn để lý luận và thực tiễn của pháp luật về quân lý nhà nước đối với hoại động báo chỉ, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiên pháp luật về quan lý nhà nước đối với báo chỉ ở ViệL Nam hiện nay. ‘Ta muc dich dat ra như trên, nhiệm vụ của luận vẫn lả - Lâm rõ sự cần thiết quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực báo chí, vai trẻ của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo chỉ ~ Nêu thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chỉ ở Việt Nam hiện nay; những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của những mặt còn tồn tại và những vấn để đang đặt ra đôi với báo chỉ hiện nay.

- Trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị, các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quần lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hiện nay. Cơ sử khoa học của đề tài - Cơ sở ly luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật, lý thuyết về sự điều chỉnh của pháp luật về quân lý nhà nước dối với tổ chức, hoat dộng báo chí - Cơ sở thực tiễn: Hoạt động báo chí và pháp luật về quản lý nhà nước dối với bảo chỉ 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đổi tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật về quan ly nha nude trong lĩnh vực bảo chí Pham vi nghiên cửu: Ï uân văn không nghiên cứu về báo chí nói chung mà chỉ đi sâu nghiên cứu pháp luật hiện hành về quần lý nhả nước đối Tinh ‘vue nay nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đổi với báo chí hiện nay. Phương pháp nghiên cứu của luận văn Tuân văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, thống kê, lôgíc, so sánh đối chiếu, khoa học dự báo để hình thành các khái niệm khoa học, đánh giá pháp luật, thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí.

Dóng góp mới của luận văn Một là, bước đầu làm sáng Lỗ những vẫn đề lý luận pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo chí, làm rõ vai trò của pháp luật đối với quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí, bảo đâm quyền tự đo báo chỉ, tự do ngôn luận của công dân Hai là, làm rõ lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo chỉ Llừ Cách mạng tháng Tám đến nay, trong đó làm sáng tẻ quá trình vừa kế thừa vừa phát triển liên tục của pháp luật về quần lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí Ba là, bước đầu đánh giá thực trạng pháp luật về quản lý trong lĩnh vực báo chí và thực trang thực hiện pháp luật bảo chí; nêu ra một số xu hướng phát triển báo chí Bén id, đưa ra một số quan điểm và phương hướng tạo cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo chí, dễ xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quan lý trong lĩnh vực báo chí trong đó kiên nghị sửa đổi, bố sưng một số điều của Luật Báo chí 1999 (sửa đổi) 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phân mở đầu, kết luận, đanh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương: hoạch, kế hoạch phát triển bảo chí, việc chấp hành pháp luật về báo chi; thi hành các biện pháp ngăn chặn hoạt động báo chí trái pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong hoạt động bảo chí Tử những nội dung nêu trên, có thể thấy rằng, hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở nước ta xuất hiện chủ yêu là hoạt động của cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp, nhưng còn thiểu vắng hoạt động của cơ quan tư pháp (xét xử) khi có hành ví vi phạm pháp luật về báo chí Dưới góc dé khoa hoc hoc quan ly. "quan ly nha nước về báo chỉ", hiểu theo ý nghĩa trên là một khái niém réng bao ham: Viée xdy dung va td chức thực hiện pháp luật Irong lĩnh vực báo chi, ma trong tam là các hoạt dộng chấp hành và diễu hành của các cơ quan nhà nước và cả nhân có thẩm quyền theo qup định của pháp luật nhằm đâm bảo trật tự quân lý và quyền công dân trong lĩnh vực bảo chỉ, hướng tới xây dựng một nên báo chỉ tiến bộ, cách mạng phục vụ sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyên, kinh tễ thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng kịp thời thông tim phục vụ đời sóng cá nhân, xã hội. Qua nghiên cửu lý luận và thực tiễn, chúng tôi thấy quản lý nhả nước trong lĩnh vực báo chỉ được thê hiện trên các phương điện sau: Mot ld, quan lý nhà nước về bảo chí là một dạng hoạt động mang tính quyên lực đặc biệt, tính tổ chức cao và được điều chỉnh bằng pháp luật.

Như các hoạt động quấn lý nhả nước nói chung, quản lý nhà nước trong lĩnh vựo bảo chỉ luôn hướng tới phục vụ mục đích xây dựng trên quan điểm của Dáng và Nhà nước là: mọi chủ trương, đường lối, hoạt động của Đảng và Nhà nước và toàn xã hội đều nhằm mục đích vì cuộc sống và hạnh. phúc gủa nhân dân, vì nhân dân là gội nguồn của quyền lực. Vì vậy, hoạt động nảy mang tỉnh quyên lực đặc biệt của Nhà nước "của dân, do dân và vì dân" Hoạt đông quản lý nha nước về bao chí thực chất là sự tác đông mang.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ