phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của pháp luật quản lý về hộ tịch Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT QUẢN LÝ VỀ HỘ TỊCH 1. Hộ tịch và quản lý về hộ tịch 1. Khái niệm hộ tịch “Hộ tịch” là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống xã hội, từ trƣớc đến nay, vẫn tồn tại khá nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm “Hộ tịch”. Dƣới góc độ ngôn ngữ, khái niệm “Hộ tịch” đƣợc giải thích trong nhiều Từ điển Hán - Việt của nhiều tác giả khác nhau dƣới đây là một số cách giải nghĩa: Theo tác giả Đào Duy Anh trong cuốn Giản yếu Hán - Việt từ điển:“Hộ tịch: Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người” Tác giả Nguyễn Văn Khôn trong cuốn Hán - Việt từ điển lại cho rằng: “Hộ tịch: Sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” Tác giả Hoàng Thúc Trâm trong cuốn Hán - Việt tân từ điển viết “Hộ tịch: Sổ biên nhận số một địa phương hoặc cả toàn quốc, trong có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người”; Tác giả Bửu Kế trong cuốn Từ điển Hán - Việt từ nguyên giải thích “Hộ tịch: Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường”.
Theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt của Nguyễn Lân chủ biên viết: "Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương”. Nhƣ vậy, xét về góc độ ngôn ngữ nghĩa của từ "Hộ tịch" còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí, có cuốn từ điển giải nghĩa còn thể hiện sự nhầm lẫn cơ bản giữa hai khái niệm hộ tịch và hộ khẩu. Điều này phản ánh Luan van 8 một thực tế là sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm “Hộ tịch” và “Hộ khẩu” trong nhận thức xã hội là khá phổ biến. Về khía cạnh pháp lý Thuật ngữ “Hộ tịch” lần đầu tiên đƣợc định nghĩa trong các giáo trình giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dƣới chế độ Việt Nam Cộng hoà, trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả sau: Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là ngƣời đầu tiên trình bày quan niệm “hộ tịch” trong cuốn tài liệu chuyên khảo xuất bản năm 1958 nhƣ sau: “Hộ tịch - còn gọi là nhân thế bộ - là cách sinh hợp pháp của một công dân trong gia đình và trong xã hội.
Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử”. Các tác giả Vũ Văn Mẫu - Lê Đình Chân lại trình bày một định nghĩa khác về khái niệm “Hộ tịch”: "Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử". Tác giả Trần Thúc Linh, tác giả cuốn Danh từ pháp luật lƣợc giải - vốn đƣợc đánh giá là một trong những từ điển chuyên ngành pháp lý đầu tiên - không đƣa ra định nghĩa về khái niệm “Hộ tịch” mà chỉ định nghĩa khái niệm “Chứng thƣ Hộ tịch”: “Chứng thư Hộ tịch là những giấy tờ công chứng dùng để chứng minh một cách chính xác thân trạng người ta như ngày tháng sanh, tử, giá thú, họ tên, con trai con gái, con chính thức hay con tư sanh, tư cách vợ chồng.
tóm lại tình trạng xã hội của con người từ lúc sinh ra đến khi chết. Các sổ sách hộ tịch ghi lại mọi việc sanh, tử, giá thú và các việc thay đổi về thân trạng người ta nhìn nhận con ngoại hôn, chính thức hoá con tư sinh, khước từ phụ hệ, ly thân. Luan van 9 Khái niệm “Hộ tịch” cũng là một trƣờng hợp đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt. Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ định nghĩa một cách minh bạch.
Trên thực tế, đã từng có những cuộc thảo luận trong giới chuyên môn về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng hơn, dễ hiểu hơn. Tuy nhiên, do khái niệm này, trải qua một quá trình lịch sử đã dần trở thành ngôn ngữ phổ thông, ăn sâu trong nhận thức nhân dân nên các nhà xây dựng pháp luật đã sử dụng khái niệm này với tƣ cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản. Tại Điều 1 Điều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 764/TTG ngày 08/5/1956 của Thủ tƣớng Chính phủ quy định “Bản điều lệ này quy định những nguyên tắc và thủ tục đăng ký các việc sinh, tử, kết hôn, sửa chữa các điều đã đăng ký; ghi chú các việc thay đổi về hộ tịch cấp phát giấy chứng nhận các việc ấy”. Điều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 04/CP ngày 16/01/1961 của Hội đồng Chính phủ năm 1961 cũng quy định “đăng ký hộ tịch là ghi vào sổ của Ủy ban hành chính cơ sở những việc sinh, tử, kết hôn và những việc có liên quan nhƣ nuôi con nuôi, nhận con ngoài giá thú, nhận cha mẹ đẻ, thay đổi quốc tịch, thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày, tháng, năm sinh.Tiếp đó, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP và Nghị định số 158/2005/NĐ-CP cũng quy định hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết.
Cách định nghĩa này, thực chất chỉ là một sự ƣớc định. Về giá trị biểu đạt, với cách định nghĩa nhƣ vậy, sẽ chính xác hơn nếu coi đây là định nghĩa cho thuật ngữ “sự kiện hộ tịch” chứ không phải thuật ngữ “Hộ tịch”. Bên cạnh đó, bản thân cách định nghĩa này cũng chƣa xác định đƣợc rõ ràng nội hàm của khái niệm nên cùng với khái niệm “Hộ tịch” Kế thừa khái niệm về hộ tịch trong các văn bản trƣớc đó, Luật Hộ tịch năm 2014 ra đời quy định: “Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều Luan van 10 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết” (Khoản 1 Điều 2). Điều 3 của Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch gồm: Khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử.
Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền: thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một ngƣời mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã đƣợc giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nƣớc ngoài. Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật. Nhƣ vậy, Luật Hộ tịch đã quy định cụ thể hơn về khái niệm hộ tịch so với Nghị định 158/2005/NĐ-CP.
Điều này là cần thiết bởi cần phải có sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật. Từ quan niệm trên về hộ tịch, có thể thấy, hộ tịch có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, hộ tịch là một giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân con ngƣời, bởi vì, mỗi ngƣời chỉ có một thời điểm sinh, một thời điểm chết. Các dấu hiệu về cha đẻ, mẹ đẻ, dân tộc, giới tính là những dấu hiệu giúp ngƣời ta Luan van 11 phân biệt từng cá nhân con ngƣời. Do đó, đây là các giá trị nhân thân gắn với một con ngƣời cụ thể từ khi sinh ra đến khi chết Thứ hai, hộ tịch là những giá trị, về nguyên tắc không chuyển đổi cho ngƣời khác.
Đặc điểm này là hệ quả của của đặc điểm thứ nhất. Do đó, việc thực hiện các sự kiện hộ tịch phải do trực tiếp cá nhân ngƣời đó thực hiện, trừ trƣờng hợp pháp luật có quy định khác (nhƣ: khai sinh có thể do bố, mẹ đi đăng ký khai sinh; khai tử do ngƣời thân của ngƣời chết đăng ký khai tử). Thứ ba,hộ tịch là những sự kiện nhân thân không lƣợng hoá đƣợc thành tiền. Chính vì vậy, hộ tịch không phải là một loại hàng hóa có thể trao đổi trên thị trƣờng.Quản lý về hộ tịch Quản lý là hoạt động mang tính đặc thù của con ngƣời, là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tƣợng quản lý.
Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó có hoạt động chung của con ngƣời. Mục đích và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con ngƣời, phối hợp hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hƣớng hoạt động chung đó theo những phƣơng hƣớng thống nhất, nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã định trƣớc. Khi Nhà nƣớc xuất hiện thì phần lớn các công việc của xã hội do nhà nƣớc quản lý. Khái niệm quản lý nhà nƣớc theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nƣớc, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nƣớc trên các phƣơng diện lập pháp hành pháp và tƣ pháp.
Theo cách hiểu này, quản lý nhà nƣớc đƣợc đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lý, nhân dân lao động làm chủ. Theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nƣớc chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời theo pháp luật nhằm đạt đƣợc những mục Luan van 12 tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc.