Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM VÀ PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM 1. Lao động trẻ em 1. Khái niệm về lao động trẻ em Từ xưa đến nay, việc trẻ em tham gia làm việc hay lao động đã không phải là hiện tượng mới lạ ở nước ta.
Trẻ em thường là nguồn lao động quan trọng của gia đình, ở nông thôn, do tính thời vụ của nền kinh tế nông nghiệp và điều kiện kinh tế của các hộ gia đình, vì thế ngay từ khi còn bé, trẻ em đã phải tham gia vào các công việc đồng áng, chăn trâu, cắt cỏ, chăn nuôi gia súc, gia cầm và phụ giúp các công việc của người lớn… Ngoài ra, trẻ em còn là những người lao động chính trong gia đình có nghề phụ ở các vùng làng nghề thủ công, các làng nghề truyền thống. Trong nhận thức của người lớn, trẻ em lao động cùng cha mẹ trong gia đình là hoàn toàn điều không xa lạ đối với các gia đình, cùng lao động với cha mẹ là hoàn toàn cần thiết và là nghĩa vụ của trẻ em. Lao động không chỉ nhằm tăng thu nhập cho gia đình và bản thân mà còn được coi là quá trình giúp các em trưởng thành, vững vàng, có thêm kĩ năng và kiến thức nghề nghiệp, phát triển trí lực, thể lực và nhân cách, chuẩn bị cho cuộc sống trong tương lai. Tham gia lao động làm cho các em thêm kinh nghiệm, sự tự tin, tự trọng… giúp các em dễ dàng hòa nhập, tiến bước trong tương lai.
Vì vậy, việc trẻ em tham gia lao động giúp trẻ em hình thành các kĩ năng, kiến thức… giúp ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Khái niệm trẻ em Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người. Trẻ em là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Trẻ em có thể được hiểu và giải thích theo những cách thức riêng của nhiều chuyên ngành như ngành nhân trắc học, ngành tâm lý học, ngành sinh học, ngành luật học… Các ngành này đều 4 dựa trên cơ sở độ tuổi để xác định đối tượng trẻ em.
Pháp luật ở mỗi quốc gia có quy định khác nhau về độ tuổi cụ thể của trẻ em. Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Ở Việt Nam, theo Điều 1 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Bộ luật lao động năm 2012 không đưa ra khái niệm về lao động trẻ em mà chỉ có khái niệm về lao động chưa thành niên.
Theo đó, Điều 161 Bộ luật lao động quy định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”. Tóm lại, khái niệm trẻ em được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia. Theo đó, pháp luật quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của trẻ em. Khái niệm lao động trẻ em Lao động trẻ em là một vấn đề rộng lớn và phức tạp, tồn tại từ trước tới nay trong xã hội loài người.
Định nghĩa về lao động trẻ em không đơn giản dễ dàng vì các khái niệm trẻ em được hiểu khác nhau giữa các nước với các hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa và hoàn cảnh lịch sử khác nhau trong các thời kỳ khác nhau. Cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về lao động trẻ em. Tuy nhiên các quốc gia đều dựa theo công ước và những tiêu chuẩn quốc tế của Tổ chức lao động Quốc tế (tên tiếng Anh là International Labour Organization , viết tắt là ILO) làm căn cứ xác định lao động trẻ em. Theo khái niệm trẻ em được quy định trong Điều 2 Công ước số 182 năm 1999 của Tổ chức lao động Quốc tế về nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất có ghi: “Trong công ước này, thuật ngữ “trẻ em” sẽ áp dụng cho tất cả những người dưới 18 tuổi”.
5 Trong Công ước về quyền và trẻ em năm 1989, Điều 1 quy định “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn”. Có thể đưa ra khái niệm lao động trẻ em là khái niệm hẹp không bao gồm những trẻ em từ 12 tuổi trở lên làm việc ít với thời gian nhẹ nhàng và những em từ 15 tuổi trở lên mà không làm các công việc nặng nhọc, độc hại. Khái niệm này dựa trên cơ sở Công ước số 138 của Tổ chức lao động Quốc tế về tuổi tối thiểu lao động năm 1973. Ở Việt Nam, Bộ luật lao động không đưa ra khái niệm về lao động trẻ em mà chỉ có khái niệm về lao động chưa thành niên.
Xét ở khía cạnh pháp lý thì trong hệ thống pháp luật của Việt Nam không có một quy định nào để xác định khái niệm “lao động trẻ em”. Do đó, khái niệm lao động trẻ em chỉ có thể xác định dựa trên mặt thuật ngữ khoa học. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động “ Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Và trong Điều 161 Bộ luật lao động cũng có quy định “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”.
Tuy các quy định trong Bộ luật lao động không đề cập đến lao động trẻ em nhưng các quy định và áp dụng với người dưới 18 tuổi, điều này có thể hiểu pháp luật lao động về người lao động chưa thành niên vẫn có ý nghĩa bảo vệ quyền trẻ em. Pháp luật Việt Nam đã bao hàm lao động trẻ em trong khái niệm lao động chưa thành niên nhằm tạo ra sự bảo vệ, đảm bảo quyền lợi hợp pháp đối với người chưa có năng lực pháp luật và năng lực hành vi toàn diện. Có thể đưa ra khái niệm lao động trẻ em ở Việt Nam được hiểu là: thuật ngữ chỉ những người ở độ tuổi trẻ em đang tham gia làm những công việc mà điều kiện làm việc ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tinh thần, nhân phẩm của trẻ… thì được coi là lao động trẻ em. Đặc điểm của lao động trẻ em Thứ nhất, lao động trẻ em là người chưa đến tuổi trưởng thành, sức lực, trí lực chưa phát triển toàn diện.
Vì thế khả năng chịu đựng trong điều kiện lao động 6 nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại còn kém, có thể hiểu lao động trẻ em vẫn chưa thể bảo vệ được chính mình. Thứ hai, lao động trẻ em đang trong thời kì phát triển, đang trong giai đoạn định hình về nhân cách, tính cách dễ thay đổi chịu nhiều tác động từ các ảnh hưởng bên ngoài, môi trường xung quanh. Trong môi trường có những tác động tích cực về giáo dục, điều kiện sống tốt sẽ giúp trẻ em hình thành những tính cách, nhân cách tốt. Ngược lại, nếu phải làm việc, phát triển trong môi trường nhiều tác nhân xấu, nhiều tiêu cực sẽ làm sự phát triển của trẻ em chuyển hướng tiêu cực, gây ảnh hưởng xấu tới chính các em, gia đình và xã hội.
Thứ ba, lao động trẻ em là người dễ bị lợi dụng, dễ bị bóc lột vì thiếu kiến thức xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, thiếu các phương tiện để đảm bảo quyền lợi của chính mình. Vì vậy, trong nhiều trường hợp trẻ em cần sự giám hộ hoặc đại diện hợp pháp để tham gia các quan hệ pháp luật, trong đó có quan hệ pháp luật lao động. Vai trò của lao động trẻ em Có cơ hội tham gia quan hệ lao động, lao động trẻ em có thể tự lao động kiếm sống, có việc làm, đây là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của trẻ em. Lao động trẻ em có việc làm giúp trẻ em phát sinh thêm thu nhập, có thể là tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, lợi ích thỏa mãn các nhu cầu của bản thân, phụ giúp gia đình,… Lao động trẻ em có việc làm, ngoài việc thêm thu nhập, thỏa mãn nhu cầu của bản thân, lao động trẻ em còn được học hỏi, trau dồi kinh nghiệm trong môi trường mới, giúp hình thành nên nhân cách của các em.
Lao động trẻ em đang trải qua giai đoạn phát triển vượt bậc về mặt thể chất, nên các em ở lứa tuổi này thường có những biểu hiện về mặt tâm lý khá phức tạp và chưa ổn định. Đây là thời kỳ có nhiều biến động nhanh, mạnh, đột ngột mà các nhà tâm lý thường gọi là “giai đoạn khủng hoảng lứa tuổi”. Việc được tham gia trong một môi trường lành mạnh, điều kiện tốt sẽ giúp các em phát triển một cách đúng đắn, tránh những cạm bẫy, những rủi ro trong cuộc sống của mình. Người sử dụng lao động cũng rất quan tâm tới lực lượng lao động trẻ em, với nguồn lực dồi dào, chi phí rẻ,… lao động trẻ em trở thành lực lượng không 7 thể thiếu của người sử dụng lao động.
Nhiều công việc mang tính chất gia công, thời vụ, nhẹ nhàng mà lao động trẻ em dễ dàng đáp ứng được những yêu cầu của công việc. Đặc biết, người sử dụng lao động chỉ phải tốn một khoản chi phí rẻ cho lao động trẻ em, phù hợp với tính chất công việc. Với sự phát triển nhanh chóng, tiếp nhận và thực hiện các qui trình, yếu tố kinh tế mới đã giúp Việt Nam đi tắt đón đầu, chuyển mình tạo các bước kinh tế vượt trội. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế hiện nay, không thể không nhắc đến sự đóng góp và là nguồn lao động vô cùng quan trọng của “ Lao động trẻ em”.
Một nguồn nhân lực đặc thù, với chi phí rẻ, với số lượng ngày càng tăng taọ ra nguồn nhân lực dồi dào đáp ứng được các yêu cầu thay đổi của kinh tế, kĩ thuật với cách thức nhanh chóng là một phần vô cùng quan trọng cần thiết của nền kinh tế.