Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Kinh tế với đề tài "Pháp luật về lao động trẻ em ở Việt Nam - Những vấn đề lí luận và thực tiễn" do sinh viên Liêu Vương Quốc Anh thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Đỗ Thị Dung tại Viện Đại học Mở Hà Nội (tháng 5/2015). Đề tài bắt nguồn từ bối cảnh thực tiễn của Việt Nam kể từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới kinh tế năm 1986. Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường làm sụt giảm một phần ngân sách bao cấp cho các lĩnh vực xã hội như giáo dục và y tế, dẫn đến tình trạng trẻ em bỏ học gia tăng và tiếp cận dịch vụ y tế gặp khó khăn. Đồng thời, sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế hộ gia đình đã tạo ra nhu cầu thu hút nhiều loại hình lao động, trong đó có lao động trẻ em.

Mặc dù hệ thống pháp luật Việt Nam từ Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007) cho đến Bộ luật Lao động năm 2012 cùng các văn bản hướng dẫn đã ban hành nhiều quy định riêng biệt nhằm bảo vệ lao động trẻ em, thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Vẫn tồn tại tình trạng trẻ em phải thực hiện các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; người sử dụng lao động vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, tiền lương và an toàn, vệ sinh lao động. Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật còn bộc lộ sự thiếu thống nhất, mâu thuẫn giữa quy định của Bộ luật Lao động với Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là hệ thống hóa các khái niệm lý luận về trẻ em và lao động trẻ em, phân tích tính pháp lý trong việc thiết lập, duy trì và chấm dứt quan hệ lao động; đánh giá tầm quan trọng của lực lượng này đối với sự phát triển kinh tế; chỉ ra điểm tích cực và hạn chế của hệ thống pháp luật lao động hiện hành; đối chiếu với thực tiễn tuân thủ và vi phạm để đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm ba nhiệm vụ:

  1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và sự điều chỉnh của pháp luật lao động đối với lao động trẻ em, cùng với tác động của hội nhập quốc tế đối với hệ thống pháp luật về đối tượng này.
  2. Nghiên cứu, đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật lao động về lao động trẻ em ở Việt Nam và tình hình thực hiện trên thực tế, chỉ ra các ưu điểm, hạn chế và bất cập cần khắc phục.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động về lao động trẻ em và nâng cao hiệu quả thực thi.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống quy định pháp luật về lao động trẻ em trong Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành; các quy định liên quan trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (sửa đổi năm 2011), Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Dạy nghề năm 2006. Về phạm vi không gian và thời gian, khóa luận tập trung vào thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam giai đoạn trước và tại thời điểm năm 2015, đồng thời mở rộng nghiên cứu so sánh đối với các chuẩn mực quốc tế (các công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO, Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989) và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia như Vương quốc Anh, Nepal và Trung Quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống các khái niệm pháp lý cốt lõi về độ tuổi và tư cách chủ thể:

  • Khái niệm trẻ em: Theo Điều 1 Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989 và Điều 2 Công ước số 182 của ILO năm 1999, trẻ em là người dưới 18 tuổi. Tại Việt Nam, Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi; trong khi Điều 161 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.
  • Khái niệm lao động trẻ em: Được tiếp cận theo tiêu chuẩn của Công ước số 138 năm 1973 và Công ước số 182 năm 1999 của ILO, chỉ những người ở độ tuổi trẻ em tham gia vào các công việc mà điều kiện làm việc gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển về thể chất, tinh thần và nhân phẩm.
  • Khung văn bản quy phạm pháp luật trong nước áp dụng bao gồm: Bộ luật Lao động năm 2012; Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật Dạy nghề năm 2006; Nghị định số 05/2015/NĐ-CP; Thông tư số 10/2013/TT-BLĐTBXH ngày 10/06/2013 và Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH ngày 11/06/2013 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để mổ xẻ từng quy phạm pháp luật lao động, các quy chuẩn kỹ thuật và điều kiện làm việc đối với người chưa thành niên.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế của ILO và quy định pháp luật của các nước Anh, Nepal, Trung Quốc.
  • Phương pháp hồi cứu tài liệu: Thu thập, tổng hợp các báo cáo điều tra, tài liệu thống kê, văn bản chính sách qua các thời kỳ để đánh giá diễn biến thực tế của lao động trẻ em.

Nguồn dữ liệu sử dụng trong công trình gồm dữ liệu thứ cấp từ các văn bản pháp luật, các công ước quốc tế mà Việt Nam đã phê chuẩn; số liệu thống kê chính thức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; báo cáo toàn cầu của ILO năm 2005; số liệu cuộc khảo sát năm 2009 tại 8 tỉnh của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với ILO; số liệu từ Dự án Hỗ trợ kỹ thuật nâng cao năng lực quốc gia phòng ngừa và giảm thiểu lao động trẻ em ở Việt Nam (ngân sách 9,2 triệu USD) và Dự án Hỗ trợ xây dựng và thực thi các chương trình quốc gia về xóa bỏ các hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em do Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Tây Ban Nha tài trợ (3,42 triệu USD).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Khái quát về lao động trẻ em và pháp luật về lao động trẻ em

Chương này tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về đối tượng và sự điều chỉnh pháp luật:

  • Đặc điểm của lao động trẻ em: Văn bản xác định 3 đặc điểm cơ bản: (1) Là người chưa trưởng thành, thể lực và trí lực chưa phát triển toàn diện nên khả năng chịu đựng điều kiện nặng nhọc, độc hại rất kém; (2) Đang trong giai đoạn định hình nhân cách, tâm lý phức tạp ("khủng hoảng lứa tuổi") và dễ bị tác động bởi môi trường; (3) Dễ bị lợi dụng, bóc lột do thiếu hụt kiến thức xã hội và kinh nghiệm sống, đòi hỏi phải có sự giám hộ hoặc đại diện hợp pháp khi tham gia quan hệ pháp luật.
  • Vai trò và các yếu tố ảnh hưởng: Lao động trẻ em vừa giúp tạo thêm thu nhập, tích lũy kỹ năng sống, vừa là nguồn cung ứng nhân lực giá rẻ, linh hoạt cho người sử dụng lao động trong các công việc thời vụ, gia công. Các yếu tố tác động trực tiếp bao gồm: kinh tế (thương mại hóa, nhu cầu giảm chi phí sản xuất), xã hội (nghèo đói, biến cố gia đình như ly hôn, cha mẹ bất hòa), pháp luật (thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết) và hội nhập quốc tế.
  • Vai trò và nguyên tắc của pháp luật về lao động trẻ em: Pháp luật đóng vai trò tạo hành lang pháp lý bảo vệ thể lực, nhân phẩm và quyền lợi của trẻ; tạo lập sự bình đẳng xã hội; định hình ý thức trách nhiệm cộng đồng. Chương 1 nêu rõ 3 nguyên tắc pháp lý: (1) Tôn trọng quyền được tham gia quan hệ lao động của trẻ em (Điều 4 Bộ luật Dân sự 2005, Điều 5 Bộ luật Lao động 2012); (2) Bảo vệ người lao động trẻ em thông qua các tiêu chuẩn tối thiểu về quyền lợi và tối đa về nghĩa vụ trên cơ sở độ tuổi, đồng thời khuyến khích các thỏa thuận có lợi hơn; (3) Bảo vệ lao động trẻ em trong mối tương quan hài hòa với quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động.
  • Pháp luật quốc tế và pháp luật một số nước: Khóa luận phân tích hệ thống tiêu chuẩn của ILO với gần 200 công ước, trong đó có 5 công ước cơ bản mà Việt Nam phê chuẩn (Công ước 100, 111, 138, 182, 29). Về luật so sánh:
    • Vương quốc Anh: Điểm 5(4) Luật Thương thuyền và Tàu đánh cá năm 1998 quy định cấm sử dụng người dưới 18 tuổi làm việc trong môi trường độc hại, phóng xạ, nhiệt độ quá cao/quá lạnh, tiếng ồn và độ rung lớn.
    • Nepal: Điểm 3 Chương 2 Luật Lao động trẻ em quy định danh mục cụ thể các ngành nghề cấm tuyệt đối (du lịch, khách sạn, sòng bạc, quán bar, giao thông công cộng, xây dựng, sản xuất thuốc lá, dệt thảm, xi măng, chất nổ, bia rượu, dầu mỏ, năng lượng...).
    • Trung Quốc: Điều 12 Luật về cấm lao động trẻ em quy định cơ chế chế tài nghiêm khắc đối với cán bộ, cơ quan công quyền (thanh tra, cảnh sát kiểm tra độ tuổi, cán bộ cấp phép kinh doanh) nếu có hành vi dung túng hoặc thiếu trách nhiệm để xảy ra tình trạng sử dụng lao động dưới 16 tuổi trái phép.

Chương 2. Thực trạng pháp luật về lao động trẻ em ở Việt Nam

Chương 2 phân tích chi tiết hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ lao động của người chưa thành niên:

  • Pháp luật về học nghề và việc làm:
    • Về học nghề: Điều 59 và Điều 61 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định người học nghề, tập nghề phải đủ 14 tuổi và có đủ sức khỏe phù hợp. Điều 63 Luật Dạy nghề năm 2006 dẫn chiếu quyền và nghĩa vụ của người học nghề theo Luật Giáo dục (Điều 85, 86). Hợp đồng học nghề phải giao kết bằng văn bản hoặc bằng miệng (bằng văn bản phải lập 2 bản). Điều 60 quy định người sử dụng lao động phải lập kế hoạch và dành kinh phí đào tạo nâng cao kỹ năng nghề.
    • Về việc làm: Điều 165 Bộ luật Lao động năm 2012 và Thông tư số 10/2013/TT-BLĐTBXH quy định danh mục công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người chưa thành niên. Đối với độ tuổi dưới 15, Khoản 1 Điều 164 Bộ luật Lao động năm 2012 và Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH quy định danh mục các công việc nhẹ được phép sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi (diễn viên nghệ thuật truyền thống, vận động viên năng khiếu thể thao, các nghề thủ công truyền thống như chấm men gốm, thêu ren, làm tranh Đông Hồ, đan lát, nuôi tằm, gói kẹo dừa...).
  • Pháp luật về xác lập quan hệ lao động: Điều 3 quy định độ tuổi lao động tối thiểu chung là từ đủ 15 tuổi. Đối với lao động từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi, Điểm a Khoản 2 Điều 164 yêu cầu hợp đồng phải ký kết bằng văn bản giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật và phải có sự đồng ý của trẻ em. Việc giao kết dựa trên các nguyên tắc: tự do, tự nguyện; bình đẳng; và không trái pháp luật. Về loại hợp đồng, pháp luật quy định: hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng xác định thời hạn (từ đủ 12 đến 36 tháng), và hợp đồng theo mùa vụ hoặc công việc nhất định dưới 12 tháng.
  • Pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động: Áp dụng căn cứ tại Điều 38 Bộ luật Lao động năm 2012 và Nghị định số 05/2015/NĐ-CP. Người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi người lao động thường xuyên không hoàn thành nhiệm vụ (theo quy chế nội bộ có ý kiến của công đoàn), do lý do bất khả kháng, hoặc do thay đổi cơ cấu, công nghệ, khủng hoảng kinh tế. Ngược lại, lao động trẻ em có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động, hoặc khi bản thân, gia đình gặp hoàn cảnh khó khăn đặc biệt (chăm sóc bố mẹ/người thân ốm đau, định cư nước ngoài, thiên tai, hỏa hoạn).
  • Pháp luật về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp lao động: Tranh chấp lao động được giải quyết theo các nguyên tắc tại Điều 194 Bộ luật Lao động (thương lượng trực tiếp, hòa giải/trọng tài, công khai - khách quan - nhanh chóng, có sự tham gia của công đoàn). Về tư cách tố tụng theo Điều 196: người dưới 15 tuổi tham gia thông qua người đại diện; người từ đủ 15 đến dưới 16 tuổi có thể tự mình tham gia hoặc yêu cầu người đại diện hỗ trợ. Thẩm quyền và trình tự giải quyết thực hiện theo quy định tại Điều 200, 201, 203 và Chương XIV Bộ luật Lao động năm 2012.

Chương 3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động trẻ em và một số kiến nghị

Chương 3 trình bày các phát hiện thực tế về tình hình thi hành luật, nguyên nhân tồn tại và giải pháp hoàn thiện:

  • Kết quả đạt được: Nhận thức xã hội và tỷ lệ đi học của trẻ em tăng lên; khung pháp lý từng bước tương thích với các điều ước quốc tế; việc triển khai các dự án quy mô quốc gia như Dự án 9,2 triệu USD của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Dự án 3,42 triệu USD của AECID (Tây Ban Nha) tại 5 tỉnh/thành phố (Hà Nội, Lào Cai, Ninh Bình, Quảng Nam, Đồng Nai) với mục tiêu can thiệp hỗ trợ 5.000 trẻ em.
  • Những tồn tại, hạn chế:
    • Tỷ lệ vi phạm còn phức tạp, đặc biệt là việc sử dụng lao động dưới độ tuổi tối thiểu trong khu vực phi chính thức, quy mô kinh tế gia đình nhỏ lẻ không đăng ký kinh doanh.
    • Tình trạng trá hình (nhận con nuôi, nhận người quen ở quê để giúp việc gia đình, phụ việc nhà hàng, bán hàng rong) nhằm bóc lột sức lao động.
    • Cơ chế ký hợp đồng qua người đại diện bộc lộ kẽ hở tạo sự ràng buộc mơ hồ.
    • Tồn tại các đường dây môi giới trục lợi từ trẻ em nghèo; công tác thanh tra, phát hiện vi phạm còn rất chậm trễ.
  • Sáu nhóm nguyên nhân dẫn đến hạn chế: (1) Nghèo đói là nguyên nhân cốt lõi; (2) Sự phân hóa giàu nghèo và nhu cầu hạ giá thành sản xuất của doanh nghiệp; (3) Biến cố gia đình (ly hôn, bỏ mặc con cái) và nhận thức hạn chế của cha mẹ; (4) Thiếu khung pháp luật điều chỉnh khu vực phi kết cấu và thiếu quy định thanh tra chuyên biệt; (5) Chế tài xử phạt (hành chính, dân sự, hình sự) chưa đủ sức răn đe; (6) Năng lực và hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra còn thấp.
  • Các nhóm kiến nghị cụ thể:
    • Lĩnh vực việc làm, học nghề: Phân nhóm quy định theo từng độ tuổi cụ thể (nhóm dưới 13 tuổi, nhóm từ 13 đến dưới 15 tuổi, nhóm từ 15 đến dưới 18 tuổi); ưu tiên vốn vay cho cơ sở sản xuất nghề truyền thống tiếp nhận lao động trẻ em; quản lý lao động trẻ em bằng thẻ lao động; quy định thời gian cam kết làm việc sau đào tạo tối đa không quá 3 lần thời gian học nghề (chỉ áp dụng với khóa đào tạo trên 3 tháng).
    • Lĩnh vực giao kết hợp đồng: Thống nhất tiêu chuẩn sức khỏe, căn cứ xác định độ tuổi; quy định rõ cơ chế đại diện cho nhóm 15 đến dưới 18 tuổi; hoàn thiện quy định về hợp đồng vô hiệu từng phần/toàn bộ và quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệu của cha mẹ, người giám hộ.
    • Lĩnh vực kỷ luật và bồi thường thiệt hại: Bổ sung hình thức kỷ luật "nhắc nhở" đối với vi phạm nhỏ; bắt buộc có sự tham gia của cha mẹ/người giám hộ khi xử lý kỷ luật trẻ dưới 15 tuổi; phân định trách nhiệm bồi thường tài sản (lao động từ 15 đến dưới 18 tuổi bồi thường bằng tài sản riêng, thiếu thì cha mẹ bù hoặc trừ tối đa 30% lương tháng sau khi đã đóng bảo hiểm; trẻ dưới 15 tuổi thì cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ, nếu thiếu mới dùng tài sản riêng của trẻ hoặc trừ không quá 30% lương).
    • Lĩnh vực thay đổi, chấm dứt hợp đồng: Trao quyền cho cha mẹ/người giám hộ yêu cầu sửa đổi hợp đồng; bổ sung căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng cho lao động trẻ em khi phát hiện điều khoản hợp đồng gây bất lợi.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu cụ thể phản ánh thực trạng lao động trẻ em và việc thực thi các cam kết chính sách:

Chỉ số / Chương trình / Nội dung khảo sát Số liệu / Chi tiết ghi nhận trong văn bản
Ước tính toàn cầu về lao động tồi tệ (Báo cáo ILO 2005) 50 - 60 triệu trẻ em (trên tổng số 165 triệu trẻ em lao động)
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Việt Nam (Thống kê của Bộ LĐTBXH) 1.000 trẻ nghèo cùng cực; 23.000 trẻ phải lao động; 16.000 trẻ đường phố; 8.500 trẻ nhiễm HIV (0-15 tuổi); 22.000 trẻ mồ côi vì AIDS
Khảo sát lao động trẻ em tại 8 tỉnh năm 2009 (Bộ LĐTBXH & ILO) 56,7% lao động trẻ em là nữ; tỷ lệ trẻ em gái trong công nghiệp/dịch vụ cao gấp 1,6 - 1,7 lần trẻ em trai
Dự án Hỗ trợ kỹ thuật nâng cao năng lực quốc gia phòng ngừa LĐTE Tổng mức vốn 9,2 triệu USD (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ quản)
Dự án Xóa bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất (AECID Tây Ban Nha tài trợ) Vốn 3,42 triệu USD; can thiệp 5.000 trẻ em tại 5 địa phương: Hà Nội, Lào Cai, Ninh Bình, Quảng Nam, Đồng Nai
Các công ước cơ bản của ILO mà Việt Nam đã phê chuẩn 5 công ước: C100 (tiền lương bình đẳng), C111 (chống phân biệt đối xử), C138 (tuổi tối thiểu), C182 (hình thức LĐTE tồi tệ nhất), C29 (chống lao động cưỡng bức)

Hệ thống đóng góp của tác giả tập trung vào việc kiến nghị sửa đổi quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn:

  • Phân định rõ ràng trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất giữa người lao động chưa thành niên và cha mẹ/người giám hộ, gắn mức khấu trừ tối đa 30% tiền lương sau khi đã trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc.
  • Đề xuất giới hạn trần thời gian làm việc bắt buộc sau đào tạo nghề (không quá 3 lần thời gian đào tạo đối với khóa học trên 3 tháng) nhằm ngăn chặn tình trạng bóc lột sức lao động trá hình dưới danh nghĩa đào tạo.
  • Kiến nghị phương thức quản lý lao động trẻ em thông qua thẻ lao động và bổ sung các quyền can thiệp pháp lý trực tiếp của cha mẹ, người giám hộ trong việc đề nghị sửa đổi, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và nội dung trình bày trong văn bản, công trình có một số giới hạn nghiên cứu:

  • Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở góc độ pháp luật lao động điều chỉnh quan hệ lao động của trẻ em, chưa đi sâu phân tích toàn diện các yếu tố cấu thành tội phạm trong Bộ luật Hình sự hoặc các chính sách an sinh xã hội tổng thể.
  • Nguồn số liệu thực chứng chuyên sâu chủ yếu dựa vào kết quả cuộc điều tra năm 2009 tại 8 tỉnh và các số liệu báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại thời điểm năm 2015, chưa có điều kiện khảo sát thực địa diện rộng trên toàn bộ 63 tỉnh, thành phố.
  • Hướng mở rộng tiếp theo được đặt ra từ văn bản là nghiên cứu xây dựng khung pháp lý đặc thù nhằm kiểm soát việc sử dụng lao động trẻ em trong khu vực kinh tế phi chính thức, khu vực kinh tế hộ gia đình không đăng ký kinh doanh và lao động giúp việc gia đình.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu học thuật hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật, Luật Kinh tế, Quản trị Nhân lực và Xã hội học khi nghiên cứu về chế định người lao động chưa thành niên trong luật lao động Việt Nam.

Nội dung công trình cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nhà nước về lao động (Sở, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội), cơ quan Thanh tra Lao động và các tổ chức bảo vệ quyền trẻ em trong việc:

  • Rà soát, đối chiếu các quy định pháp luật trong nước với các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO (Công ước 138, Công ước 182).
  • Vận dụng danh mục công việc nhẹ được phép sử dụng lao động dưới 15 tuổi theo Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH và danh mục công việc cấm theo Thông tư số 10/2013/TT-BLĐTBXH trong công tác thanh tra, kiểm tra.
  • Tham khảo các kinh nghiệm lập pháp so sánh từ Vương quốc Anh, Nepal và Trung Quốc để thiết kế cơ chế giám sát cán bộ công quyền và kiểm soát điều kiện làm việc của người chưa thành niên.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt độ tuổi của "trẻ em" và "người lao động chưa thành niên" trong pháp luật Việt Nam như thế nào?
Theo phân tích trong khóa luận, Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Trong khi đó, Bộ luật Lao động năm 2012 không dùng thuật ngữ "lao động trẻ em" mà quy định tại Điều 161: người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Độ tuổi lao động tối thiểu thông thường là từ đủ 15 tuổi (Khoản 1 Điều 3). Khái niệm lao động chưa thành niên trong Bộ luật Lao động đã bao hàm cả đối tượng trẻ em nhằm thiết lập cơ chế bảo vệ pháp lý toàn diện cho người chưa phát triển đầy đủ về năng lực hành vi và thể chất.

2. Theo số liệu khảo sát năm 2009 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với ILO tại 8 tỉnh, cơ cấu lao động trẻ em có đặc điểm gì nổi bật?
Kết quả khảo sát năm 2009 tại 8 tỉnh được trích dẫn trong khóa luận chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ em gái tham gia lao động chiếm 56,7% (cao hơn trẻ em trai). Đặc biệt, số lượng trẻ em gái làm việc trong các ngành công nghiệp và dịch vụ cao gấp 1,6 đến 1,7 lần so với các em trai.

3. Danh mục công việc nhẹ được phép sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi làm việc theo Thông tư 11/2013/TT-BLĐTBXH gồm những nhóm ngành nghề nào?
Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH cho phép người từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi làm các công việc nhẹ gồm: diễn viên (múa, hát, xiếc, điện ảnh, sân khấu kịch, tuồng, chèo, cải lương, múa rối trừ múa rối nước); vận động viên năng khiếu (thể dục dụng cụ, bơi lội, điền kinh trừ tạ xích, bóng bàn, cầu lông, bóng rổ, bóng đá, võ thuật, cờ vua...); nghề truyền thống (chấm men gốm, cưa vỏ trai, vẽ tranh sơn mài, làm giấy dó, nón lá, se nhang, dệt chiếu, dệt thổ cẩm, làm bún gạo, giá đỗ...); thủ công mỹ nghệ (thêu ren, mộc mỹ nghệ, làm lược sừng, đan lưới, làm tranh Đông Hồ, nặn tò he, đan lát); nuôi tằm và gói kẹo dừa.

4. Điểm đặc thù trong quy định pháp luật về lao động trẻ em của Trung Quốc được khóa luận dẫn chứng là gì?
Khóa luận viện dẫn Điều 12 Luật về cấm lao động trẻ em của Trung Quốc, theo đó quy định trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc đối với các cơ quan và cán bộ nhà nước. Cán bộ thanh tra phát hiện sử dụng lao động trẻ em mà không đình chỉ/xử lý, cảnh sát vi phạm quy định kiểm soát độ tuổi/căn cước, hoặc cán bộ quản lý thương mại cấp phép cho cơ sở sử dụng trái phép người dưới 16 tuổi đều bị xử lý kỷ luật, giáng chức, sa thải hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

5. Tác giả đề xuất phương án bồi thường thiệt hại tài sản đối với lao động trẻ em như thế nào?
Về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường vật chất:

  • Đối với người từ 15 đến dưới 18 tuổi: Bồi thường bằng tài sản riêng của mình; nếu không đủ thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu, hoặc khấu trừ dần vào tiền lương tháng nhưng không quá 30% mức lương hàng tháng (sau khi đã trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc).
  • Đối với người dưới 15 tuổi: Cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha mẹ không đủ thì mới lấy tài sản riêng của người lao động dưới 15 tuổi để bù đắp hoặc khấu trừ dần vào lương tháng với tỷ lệ không quá 30% mức lương sau bảo hiểm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Liêu Vương Quốc Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, các nguyên tắc pháp lý và thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về lao động trẻ em theo Bộ luật Lao động năm 2012. Thông qua việc phân tích số liệu thống kê thực tế và so sánh với các chuẩn mực quốc tế của ILO cùng kinh nghiệm lập pháp nước ngoài, công trình đã làm rõ những khoảng trống pháp lý trong việc quản lý lao động trẻ em tại khu vực kinh tế phi chính thức. Các đề xuất sửa đổi về giao kết hợp đồng, giới hạn cam kết sau đào tạo nghề và cơ chế phân định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là những đóng góp có ý nghĩa thực tiễn nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ người lao động chưa thành niên tại Việt Nam.