CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ TỔ CHỨC BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT 1. Nghệ thuật Với phương thức hoạt động sáng tạo ra sản phẩm tinh thần phản ánh quan hệ thẩm mỹ, nghệ thuật là một bộ phận quan trọng đặc biệt của sáng tạo văn hóa. Lĩnh vực nghệ thuật là một phần trọng yếu của văn hóa tinh thần, phản ánh khát vọng sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật theo quy luật con người muốn hướng tới cái đẹp. Nghệ thuật là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau.
Trên thực tế đã có rất nhiều định nghĩa về nghệ thuật, tuy nhiên vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất và đầy đủ nhất về sự sâu rộng của nghệ thuật. Theo cuốn Ngôn ngữ Việt Nam Từ điển Tiếng Việt3 do Nhà Xuất bản từ điển Bách Khoa thì nghệ thuật là phương thức phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng tình cảm bằng hình tượng. Một cách hiểu khác, theo từ điển Tiếng Việt4 nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh động, cụ thể và gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm. “Nghĩa đầu tiên và rộng nhất về nghệ thuật là nghĩa gần nhất với nghĩa La-tinh cũ mà có thể dịch nôm na là "kỹ năng" hay "sự khéo léo".
Những từ tiếng Anh bắt nguồn từ nghĩa này của từ art bao gồm artifact (đồ tạo tác), artificial (nhân tạo), artifice (tài khéo léo), medical arts (kỹ thuật y khoa), và military arts (nghệ thuật 3 Nhà Xuất bản từ điển Bách Khoa (2014), Ngôn ngữ Việt Nam Từ điển Tiếng Việt, Trang 564 4 Từ điển Tiếng Việt.com) 10 quân sự). Tuy nhiên, trong cách dùng hàng ngày, từ art có nhiều nghĩa khác, và chỉ một số là liên quan đến nghĩa từ nguyên của nó. Nghĩa thứ hai và gần đây hơn của từ art (nghệ thuật) như một cách viết tắt của creative art (nghệ thuật sáng tạo) hay fine art (mỹ thuật) ra đời từ đầu thế kỷ 17. Nghệ thuật chỉ một kỹ năng được sử dụng để diễn tả sự sáng tạo của người nghệ sĩ, hay để khơi gợi cảm quan thẩm mỹ ở khán giả, hay để khiến khán giả để tâm đến những thứ hay đẹp hơn.
Với nghĩa thứ hai này, "nghệ thuật" có thể có những nghĩa sau: một nghiên cứu về một kỹ năng sáng tạo, một quá trình sử dụng kỹ năng sáng tạo đó, một sản phẩm của kỹ năng sáng tạo đó, hay trải nghiệm của người thưởng lãm về kỹ năng sáng tạo đó. Những môn nghệ thuật sáng tạo (nghệ thuật với tư cách là một lĩnh vực) là một tập hợp những môn tạo ra những tác phẩm nghệ thuật (nghệ thuật với tư cách là những vật thể) được tạo ra do động cơ cá nhân (nghệ thuật với tư cách là sự sáng tạo) và mang một thông điệp, tâm trạng, hay biểu tượng để người thưởng ngoạn diễn giải (nghệ thuật với tư cách là một sự trải nghiệm). Nghệ thuật là một cái gì đó kích thích tư duy, cảm xúc, niềm tin, hay ý tưởng của một người thông qua giác quan. Những công trình nghệ thuật có thể được tạo ra cho mục đích này hay được diễn dịch dựa trên những hình ảnh hay vật thể.”5 Theo triết gia Richard Wollheim mô tả nghệ thuật như là "một trong những vấn đề xưa nay khó nắm bắt nhất của văn hóa con người"6.Nghệ thuật được định nghĩa như là phương tiện để diễn đạt hay trao truyền cảm xúc và ý tưởng, một phương tiện để khám phá và thưởng lãm những yếu tố hình thức, hay như sự bắt chước (mimesis) 5 Nghệ thuật – Wikipedia tiếng Việt 6 Richard Wollheim, Art and its objects, p.1, 2nd edn (1980), Cambridge University Press, ISBN 0- 521-29706-0 11 hay thể hiện.
Nghệ thuật như là sự bắt chước có nguồn gốc sâu xa trong triết học Aristotle.7 Có nhiều cách hiểu khác nhau về nghệ thuật. Tổng kết lại, có thể hiểu định nghĩa về nghệ thuật như sau; Theo nghĩa rộng: Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời là một hoạt động tinh thần – thực tiễn của con người nhằm sáng tạo hiện thực theo quy luật của cái đẹp được biểu hiện dưới dạng hình tượng nghệ thuật, đáp ứng nhu cầu và khát vọng của con người vươn tới những giá trị chân – thiện – mỹ. Theo nghĩa hẹp: Nghệ thuật là hình thức sáng tạo đặc biệt, được tạo nên bới người nghệ sĩ có cá tính độc đáo, có tâm hồn giàu cảm xúc, có tài năng sáng tạo. Nghệ thuật là tiếng nói tình cảm, tư tưởng của con người nhằm truyền tải ý nghĩa, thông điệp, tình cảm, tư tưởng của họ tới khán giả.
Bằng những biểu hiện đặc thù riêng của mình, nghệ thuật phản ánh thế giới và cải tạo thế giới. Nghệ thuật giúp con người nhận thức những giá trị chân – thiện – mỹ, là phương tiện tác động vào thế giới nội tâm của con người, làm cho con người gắn bó với cộng đồng: “Hơn bất cứ lĩnh vực nào trong quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực, nghệ thuật mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Nó không chỉ phản ánh các điều kiện sinh hoạt thông thường của xã hội mà còn phản ánh chiều sâu của tâm lý”8 1. Biểu diễn nghệ thuật Biểu diễn nghệ thuật là một yếu tố, một bộ phận quan trọng của đời sống văn hóa nghệ thuật, là hoạt động của người nghệ sĩ với tác phẩm nghệ thuật, gắn với khán giả và cộng đồng.
7 Jerrold Levinson, The Oxford Handbook of Aesthetics, Oxford university Press, 2003, p5. ISBN 0- 19-927945-4 8 Vủ Thị Thanh Hoài: Biện chứng cá nhân – xã hội trong thị hiếu thẩm mỹ, Tạp chí nghiên cứu văn hóa, số 2, Trang 318. 12 Khoản 1 Điều 2 Nghị định 79/2012/NĐ-CP quy định “Biểu diễn nghệ thuật là trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn trực tiếp trước công chúng của người biểu diễn”. Như vậy theo Nghị định 79/2012/NĐ-CP thì khi và chỉ khi trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn “trực tiếp” trước công chúng của người biểu diễn mới được xem là biểu diễn nghệ thuật.
Như vậy với những chương trình, tiết mục, vở diễn “gián tiếp” trước công chúng của người biểu diễn như đến công chúng thông qua các phương tiện phát thanh, truyền hình, thông tin điện tử, các phương tiện kỹ thuật khác dưới các hình thức biểu diễn nghệ thuật.thì không thuộc phạm vi quản lý của Nghị định 79/2012/NĐ-CP và chưa có quy định. Nghị định 144/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2020 quy định về hoạt động nghệ thuật biểu diễn của Chính phủ định nghĩa về biểu diễn nghệ thuật như sau: “Biểu diễn nghệ thuật là hoạt động thể hiện các loại hình nghệ thuật biểu diễn, thi người đẹp, người mẫu hoặc kết hợp giữa loại hình nghệ thuật biểu diễn với trình diễn thời trang, các hoạt động văn hoá, thể thao” Như vậy, với định nghĩa này việc xác định biểu diễn nghệ thuật chủ yếu dựa vào “loại hình” khi biểu diễn tác phẩm, đó có thể là loại hình nghệ thuật biểu diễn hoặc thể hiện tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật biểu diễn có lồng ghép, phối hợp với các loại hình khác. Ngoài cách định nghĩa xác định nghệ thuật biểu diễn dựa vào loại hình nghệ thuật nêu trên, theo tác giả có thể hiểu nghệ thuật biểu diễn là hoạt động đưa các chương trình, tiết mục, vở diễn đến với công chúng qua sự trình diễn của những diễn viên chuyên nghiệp. Các sản phẩm của nghệ thuật biểu diễn thể hiện hình tượng nghệ thuật, phản ánh cuộc sống thông qua tác phẩm sân khấu, ca, múa, nhạc.
nhằm giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống, nâng cao dân trí, thẩm mỹ đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá tinh thần của Nhân dân. Hay có thể hiểu một cách đơn giản nhất nghệ thuật biểu diễn là một hình thức nghệ thuật mà nghệ sĩ sử dụng cơ thể, tiếng nói, 13 âm thanh, nhạc cụ và các phương tiện khác để trình diễn trước công chúng để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá tinh thần của công chúng. Các loại hình nghệ thuật biểu diễn Khoản 2 Điều 2 Nghị định 79/2012/NĐ-CP quy định: “Loại hình nghệ thuật biểu diễn bao gồm: Tuồng, chèo, cải lương, xiếc, múa rối, bài chòi, kịch nói, kịch dân ca, kịch câm, nhạc kịch, giao hưởng, ca, múa, nhạc, ngâm thơ, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác.” Điều 1 Thông tư số 01/2016/TT-BVHTTDL quy định: “Các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác gồm: Khiêu vũ nghệ thuật; trình diễn trong nghệ thuật sắp đặt; nghệ thuật trình diễn đường phố.” Nghị định 144/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2020 quy định “loại hình nghệ thuật biểu diễn bao gồm sân khấu, âm nhạc, múa và các hình thức diễn xướng dân gian từ truyền thống đến hiện đại của Việt Nam và thế giới.” Như vậy quy định tại Nghị định 144/2020/NĐ-CP đã xác định lại nội hàm khái niệm “biểu diễn nghệ thuật” và “loại hình nghệ thuật biểu diễn”. Theo đó, khái niệm “biểu diễn nghệ thuật” được xác định bao quát hơn nhưng cụ thể hơn.
Theo đó, những hoạt động văn hóa, thể thao có biểu diễn nghệ thuật sẽ được quản lý theo Nghị định số 144/2020/NĐ-CP. Khái niệm “loại hình nghệ thuật biểu diễn” thể hiện bao quát những loại hình cơ bản đã được phân loại mà không liệt kê như trước đây tránh thiếu sót, trùng lặp. Với lối giải thích từ ngữ nêu tại Nghị định 144/2020/NĐ-CP, theo tác giả, đây là một điểm mới có ý nghĩa tập trung quản lý chuyên ngành về hoạt động nghệ thuật biểu diễn và nội dung biểu diễn nghệ thuật. Theo nội dung tại Điều 2, hoạt động nghệ thuật biểu diễn được xác định rõ ràng bởi các tính chất sau: - Được thể hiện dưới dạng văn bản, âm thanh, hình ảnh; - Được truyền đạt đến công chúng một cách trực tiếp hoặc bằng các cách gián tiếp thông qua phương tiện kỹ thuật; 14 - Hoạt động này được thể hiện dưới hai hình thức gồm: Biểu diễn nghệ thuật (nội dung quản lý nhà nước được quy định tại chương II) và lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật (nội dung quản lý nhà nước được quy định tại chương IV).
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ tính chất, hình thức thể hiện của hoạt động nghệ thuật biểu diễn để xác định phạm vi quản lý của mình, tránh chồng chéo thẩm quyền, nội dung quản lý nhà nước với cơ quan khác như: Biểu diễn từ mấy giờ đến mấy giờ, không vi phạm tiếng ồn, an ninh trật tự an toàn xã hội, phòng chống cháy nổ, quy định quản lý nhân thân, quy định về phẫu thuật thẩm mỹ. Những nội dung này do các tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện theo đúng quy định của pháp luật chuyên ngành.