Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, các hoạt động xúc tiến thương mại ngày càng mở rộng và đa dạng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến công chúng. Cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và mạng Internet, phương thức quảng cáo truyền thống (báo in, phát thanh, truyền hình, băng-rôn, pa-nô) đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ sang môi trường kỹ thuật số, đặc biệt là trên các trang thông tin điện tử (website) và mạng xã hội.

Về mặt pháp lý, kinh doanh dịch vụ quảng cáo tại Việt Nam là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Hoạt động này chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các thời kỳ khác nhau, từ Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001 đến Luật Quảng cáo năm 2012, cùng các luật chuyên ngành như Luật Thương mại năm 2005, Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Doanh nghiệp (năm 2005 và năm 2014), Luật Đầu tư (năm 2005 và năm 2014). Sự thay đổi của hệ thống pháp luật đặt ra yêu cầu phải rà soát, đánh giá tính đồng bộ giữa các quy định pháp lý và khả năng áp dụng trên thực tế của doanh nghiệp.

Xuất phát từ thực tiễn thực tập tại Công ty Cổ phần Thiết kế và Truyền thông Kiến Việt – một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực truyền thông và sở hữu trang tin chuyên ngành kiến trúc, tác giả Nguyễn Thị Nga đã thực hiện chuyên đề "Pháp luật kinh doanh dịch vụ quảng cáo trên trang thông tin điện tử và thực tiễn tại Công ty cổ phần Thiết kế và Truyền thông Kiến Việt".

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề được xác định gồm:

  1. Hệ thống hóa và phân tích các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ quảng cáo trên trang thông tin điện tử, làm rõ quá trình chuyển tiếp từ Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001 sang Luật Quảng cáo năm 2012.
  2. Khảo sát thực trạng thực hiện pháp luật về thành lập doanh nghiệp, điều kiện quảng cáo, giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ quảng cáo tại Công ty Cổ phần Thiết kế và Truyền thông Kiến Việt.
  3. Đánh giá những vướng mắc, khó khăn trong quy định pháp luật và thực tiễn thi hành; đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý cho cơ quan nhà nước và nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật tại doanh nghiệp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy phạm pháp luật về kinh doanh dịch vụ quảng cáo trên môi trường mạng và thực tiễn áp dụng tại doanh nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn hoạt động tại Công ty Cổ phần Thiết kế và Truyền thông Kiến Việt (vận hành website kienviet.net) và bối cảnh thực thi pháp luật quảng cáo trên phạm vi cả nước.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu khung pháp lý từ năm 2008 (thời điểm thành lập công ty) đến giai đoạn 2014 - 2015, bao gồm cả các văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực và văn bản mới ban hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở pháp lý và khái niệm nền tảng

Chuyên đề vận dụng hệ thống các khái niệm pháp lý được quy định tại các văn bản luật thực định của Việt Nam:

  • Quảng cáo: Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo năm 2012, là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu (trừ tin thời sự, chính sách xã hội, thông tin cá nhân).
  • Sản phẩm quảng cáo: Gồm nội dung và hình thức quảng cáo thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng và các hình thức tương tự (Khoản 3 Điều 2 Luật Quảng cáo năm 2012).
  • Trang thông tin điện tử (Website): Hệ thống thông tin dùng để thiết lập một hoặc nhiều trang thông tin trình bày dưới dạng ký hiệu, số, chữ viết, hình ảnh, âm thanh phục vụ cung cấp và sử dụng thông tin trên Internet (Khoản 21 Điều 3 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP). Thuật ngữ này thay thế cho phương tiện "Mạng thông tin máy tính" quy định tại Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001.
  • Chủ thể tham gia quan hệ quảng cáo: Người quảng cáo (Khoản 5 Điều 2), người kinh doanh dịch vụ quảng cáo (Khoản 6 Điều 2), người phát hành quảng cáo, người cho thuê địa điểm/phương tiện quảng cáo và người tiếp nhận quảng cáo.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật áp dụng

Lĩnh vực Văn bản quy phạm pháp luật chính
Pháp luật về Quảng cáo - Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, Nghị định số 24/2003/NĐ-CP, Thông tư số 43/2003/TT-BVHTT, Thông tư số 79/2005/TT-BVHTT, Thông tư liên tịch số 85/2008/TTLT-BVHTTDL-BTTTT.
- Luật Quảng cáo năm 2012 (có hiệu lực từ 01/01/2013), Nghị định số 181/2013/NĐ-CP, Nghị định số 158/2013/NĐ-CP.
Pháp luật Doanh nghiệp & Đầu tư - Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014.
- Luật Đầu tư năm 2005 và Luật Đầu tư năm 2014 (quy định ngành kinh doanh dịch vụ quảng cáo tại số thứ tự 231 Phụ lục 4).
- Nghị định số 59/2006/NĐ-CP, Nghị định số 88/2006/NĐ-CP, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP.
Pháp luật Dân sự & Thương mại - Bộ luật Dân sự năm 2005 (quy định về giao kết hợp đồng tại Điều 390 - 400, Điều 404; hợp đồng dịch vụ tại Điều 521, 523).
- Luật Thương mại năm 2005 (quy định về dịch vụ thương mại tại Điều 78, 85; quảng cáo thương mại tại Điều 110 - 114) và Nghị định số 37/2006/NĐ-CP.
Pháp luật Công nghệ thông tin - Luật Công nghệ thông tin năm 2006.
- Nghị định số 97/2008/NĐ-CP và Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu các quy định của Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001 với Luật Quảng cáo năm 2012, Luật Doanh nghiệp năm 2005 với Luật Doanh nghiệp năm 2014), phương pháp tổng hợp số liệu thống kê và khảo cứu thực tế hồ sơ, hợp đồng kinh tế tại doanh nghiệp.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu pháp luật thực định; hồ sơ pháp lý, cơ cấu nhân sự, biểu mẫu hợp đồng dịch vụ quảng cáo và số liệu tranh chấp thực tế tại Công ty Cổ phần Thiết kế và Truyền thông Kiến Việt; số liệu báo cáo của gần 60 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2013 - 2014); Báo cáo số 159/TTr-CP của Chính phủ; Báo cáo đánh giá của Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam; số liệu đo lường thị trường quảng cáo trực tuyến từ hệ thống iTracker của VietDev.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan pháp luật về kinh doanh dịch vụ quảng cáo trên trang thông tin điện tử

Chương này tập trung làm rõ khung lý luận và cấu trúc pháp luật điều chỉnh dịch vụ quảng cáo trên Internet qua hai nội dung chính:

  • Thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo: Phân tích sự chuyển biến từ Luật Doanh nghiệp năm 2005 sang Luật Doanh nghiệp năm 2014. Theo luật cũ, ngành nghề kinh doanh được ghi nhận trực tiếp trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã bãi bỏ nội dung ngành nghề trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp tự do kinh doanh các ngành nghề pháp luật không cấm. Đối với điều kiện thiết lập trang tin, tác giả phân tích tiến trình bãi bỏ Giấy phép cung cấp dịch vụ thông tin Internet (ICP) theo Nghị định số 55/2001/NĐ-CP và Quyết định số 27/2002/QĐ-BVHTT, thay thế bằng Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp theo Nghị định số 97/2008/NĐ-CP và Nghị định số 72/2013/NĐ-CP.
  • Hoạt động kinh doanh và Hợp đồng dịch vụ quảng cáo:
    • Nội dung và hình thức quảng cáo: Phải bảo đảm tính trung thực, thẩm mỹ, sử dụng tiếng Việt và tuân thủ quy chuẩn về ngôn ngữ nước ngoài.
    • Điều kiện quảng cáo hàng hóa, dịch vụ đặc biệt: Phân tích Khoản 4 Điều 20 Luật Quảng cáo năm 2012 với các quy định khắt khe đối với thuốc, mỹ phẩm, hóa chất chế phẩm diệt côn trùng, sữa và sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ, thực phẩm/phụ gia thực phẩm, dịch vụ khám chữa bệnh, trang thiết bị y tế, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, phân bón.
    • Chuyển đổi phương thức quản lý: Luật Quảng cáo năm 2012 bãi bỏ Giấy phép thực hiện quảng cáo trên mạng thông tin máy tính (vốn quy định tại Pháp lệnh năm 2001 và Thông tư liên tịch số 85/2008/TTLT-BVHTTDL-BTTTT), chuyển sang cơ chế hậu kiểm kết hợp thông báo sản phẩm quảng cáo đối với một số phương tiện ngoài trời.
    • Hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên website: Được xác lập theo nguyên tắc giao kết hợp đồng của Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 390 - 400) và Luật Thương mại năm 2005 (Điều 110). Quy định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của bên cung cấp dịch vụ (Điều 13 Luật Quảng cáo 2012, Điều 78, Điều 113, Điều 114 Luật Thương mại 2005) và bên thuê dịch vụ (Điều 12 Luật Quảng cáo 2012, Điều 85, Điều 111, Điều 112 Luật Thương mại 2005).

Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ quảng cáo trên trang thông tin điện tử tại Công ty Cổ phần Thiết kế và Truyền thông Kiến Việt

Chương 2 phản ánh toàn diện hoạt động thực thi pháp luật tại đơn vị khảo sát và trên bình diện thị trường:

  • Khái quát đơn vị thực tập: Công ty Cổ phần Thiết kế và Truyền thông Kiến Việt thành lập ngày 01/04/2008, nhận Giấy chứng nhận ĐKKD số 0103023626 ngày 09/04/2008 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp (đã qua 3 lần đăng ký thay đổi, lần 3 vào ngày 22/11/2011). Công ty quản lý trang tin kienviet.net – cơ quan ngôn luận của Hội Kiến trúc sư Việt Nam – đạt lưu lượng truy cập 4.000 đến 5.000 lượt/ngày.
  • Thực trạng cung ứng dịch vụ quảng cáo:
    • Hình thức và bảng giá: Quảng cáo banner cố định (giá từ 2.000 VNĐ/tháng trở lên tùy vị trí), banner đóng/mở toàn màn hình, đăng thông tin danh bạ công ty (500.000 VNĐ/tháng), đăng bài PR (3.000.000 VNĐ/bài). Thuế giá trị gia tăng áp dụng là 10%.
    • Thẩm tra điều kiện quảng cáo: Công ty yêu cầu khách hàng cung cấp giấy đăng ký doanh nghiệp, tài liệu chứng minh quyền sở hữu tài sản, bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc giấy chứng nhận hợp chuẩn/hợp quy đối với sản phẩm quảng cáo trước khi đăng tải.
  • Phân tích bất cập trong Hợp đồng mẫu của Công ty: Hợp đồng kinh tế của Kiến Việt gồm 6 điều khoản cơ bản nhưng bộc lộ nhiều xung đột pháp lý:
    • Điều khoản thanh toán: Quy định bên A phải thanh toán ngay sau khi ký kết bằng hình thức chuyển khoản, mâu thuẫn với quy định về thời điểm có hiệu lực tại Khoản 4 Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2005 do giao dịch chuyển khoản trên thực tế luôn có độ trễ thời gian.
    • Điều khoản miễn trừ trách nhiệm: Hợp đồng quy định "Bên B không chịu trách nhiệm pháp lý về các nội dung quảng cáo của bên A", điều này trái trực tiếp với Khoản 2 Điều 13 Luật Quảng cáo năm 2012 (buộc người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo do mình trực tiếp thực hiện).
    • Điều khoản tạm ngừng: Chưa quy định rõ căn cứ bồi thường thiệt hại khi tạm ngừng phát sinh lỗi từ các bên.
  • Tình hình tranh chấp: Đơn vị ghi nhận khoảng 20 vụ tranh chấp kể từ khi thành lập, chủ yếu do khách hàng chậm thanh toán. Toàn bộ các vụ việc đều được xử lý bằng phương thức tự thương lượng giữa hai bên.
  • Đánh giá thực thi Luật Quảng cáo trên phạm vi toàn quốc:
    • Số liệu thị trường: Năm 2012 doanh thu quảng cáo toàn quốc đạt 20.400 tỷ đồng (+30% so với 2011); năm 2014 tăng 25%. Thị trường website đạt doanh thu 49.554 USD theo số liệu iTracker (VietDev). Giai đoạn 2013 - 2014, cả nước tiếp nhận 25.502 hồ sơ thông báo sản phẩm quảng cáo (TP.HCM: 5.682 hồ sơ, Đà Nẵng: 2.423 hồ sơ).
    • Bất cập văn bản dưới luật: Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP đặt ra thủ tục xin xác nhận nội dung quảng cáo đối với hàng hóa đặc biệt, thực chất làm phát sinh lại "giấy phép con", trái với tinh thần cắt giảm thủ tục hành chính của Luật Quảng cáo năm 2012.
    • Chồng chéo thẩm quyền: Thông tư số 40/2012/TT-BCT (Bộ Công thương) và Thông tư số 08/2013/TT-BYT (Bộ Y tế) có sự xung đột về cơ quan thẩm duyệt nội dung quảng cáo đối với nhóm sản phẩm nước khoáng thiên nhiên, nước đóng chai và nước giải khát, sữa chế biến.
    • Hiện tượng "lệ làng" tại địa phương: Nhiều Sở VHTTDL đặt thêm thủ tục ngoài luật (đòi chứng thực toàn bộ giấy tờ, yêu cầu nộp hợp đồng quảng cáo, dừng tiếp nhận hồ sơ do chưa có quy hoạch ngoài trời...).

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ quảng cáo tại Công ty Cổ phần Thiết kế và Truyền thông Kiến Việt

Chương này đề xuất các giải pháp hoàn thiện ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô:

  • Kiến nghị về phía Nhà nước:
    • Đảm bảo sự nhất quán: Rà soát, sửa đổi Nghị định số 181/2013/NĐ-CP theo hướng bãi bỏ giấy xác nhận nội dung quảng cáo đối với các sản phẩm không có quy định trong Luật Quảng cáo năm 2012.
    • Hoàn thiện cơ chế phân công quản lý: Rạch ròi thẩm quyền giữa Bộ Y tế và Bộ Công thương trong việc quản lý quảng cáo thực phẩm, đồ uống.
    • Bổ sung quy chuẩn cho website: Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về vị trí, hình thức hiển thị quảng cáo trên trang thông tin điện tử tổng hợp và trang thông tin điện tử chuyên ngành (hiện Điều 23 Luật Quảng cáo năm 2012 mới chỉ giới hạn điều chỉnh báo điện tử và trang thông tin điện tử cơ quan nhà nước).
    • Chấn chỉnh cơ chế thực thi tại địa phương: Xóa bỏ các thủ tục hành chính tự phát ("lệ làng"); ban hành quy hoạch quảng cáo đồng bộ, có lộ trình kế thừa.
    • Phát huy vai trò của Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam: Tham gia phản biện chính sách và bảo vệ quyền lợi hội viên.
  • Kiến nghị về phía Công ty Cổ phần Thiết kế và Truyền thông Kiến Việt:
    • Kiện toàn tổ chức và bộ máy pháp chế: Bố trí nhân sự am hiểu pháp luật để kiểm soát tính hợp pháp của các giao dịch và sản phẩm quảng cáo.
    • Hoàn thiện hợp đồng mẫu: Sửa đổi điều khoản thanh toán, bổ sung trách nhiệm kiểm duyệt nội dung theo đúng Luật Quảng cáo năm 2012, bổ sung quy định về cơ chế phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
    • Mở rộng thị trường và đa dạng hóa phương tiện: Đầu tư mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ ngoài phân khúc kiến trúc để gia tăng năng lực cạnh tranh trước các nền tảng xuyên biên giới (Google, Facebook, YouTube).
    • Quản lý rủi ro công nợ: Áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đối với các hợp đồng quảng cáo quy mô lớn nhằm giảm thiểu nợ đọng khi thanh lý.

Kết quả và đóng góp

Chuyên đề đã tổng hợp và phản ánh các kết quả cụ thể sau:

  • Về mặt số liệu thực tiễn và quản lý nhà nước:
    • Thống kê số lượng 25.502 hồ sơ thông báo sản phẩm quảng cáo được tiếp nhận tại gần 60 Sở VHTTDL trong hai năm 2013 - 2014.
    • Ghi nhận doanh thu thị trường quảng cáo toàn quốc đạt 20.400 tỷ đồng (năm 2012) và quy mô thị trường quảng cáo website đạt 49.554 USD (năm 2014 theo iTracker).
    • Thống kê số liệu hoạt động nội bộ của Công ty Kiến Việt: vận hành website kienviet.net (4.000 - 5.000 view/ngày), ghi nhận khoảng 20 vụ tranh chấp hợp đồng được giải quyết hoàn toàn bằng thương lượng nội bộ.
  • Về mặt phát hiện pháp lý:
    • Chỉ ra xung đột pháp lý trực tiếp giữa Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP với Khoản 2 Điều 19 Luật Quảng cáo năm 2012 về việc tái lập cơ chế cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo.
    • Phát hiện điểm sai phạm trong hợp đồng dịch vụ mẫu của doanh nghiệp khi cố tình loại trừ trách nhiệm về nội dung quảng cáo của bên cung cấp dịch vụ, vi phạm Khoản 2 Điều 13 Luật Quảng cáo năm 2012.
    • Làm rõ sự chồng chéo trong thẩm quyền quản lý giữa Bộ Công thương (Thông tư số 40/2012/TT-BCT) và Bộ Y tế (Thông tư số 08/2013/TT-BYT).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của tài liệu:
    • Tác giả tự nhận định kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế; một số đánh giá về tài chính doanh nghiệp còn ở mức sơ lược.
    • Phạm vi khảo sát thực tế mới chỉ tập trung vào một doanh nghiệp có quy mô nhỏ (Công ty Cổ phần Thiết kế và Truyền thông Kiến Việt) với thị trường ngách là trang tin kiến trúc, chưa phản ánh toàn diện các mô hình đại lý quảng cáo lớn hoặc nền tảng mạng xã hội phức tạp.
  • Hướng phát triển nghiên cứu: Mở rộng khảo sát hoạt động kinh doanh quảng cáo trên các mô hình truyền thông đa nền tảng, quảng cáo tự động (programmatic advertising), quảng cáo xuyên biên giới và cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng quảng cáo trực tuyến qua trọng tài thương mại hoặc tòa án.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Luật (chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế): Cung cấp tài liệu tham khảo về cấu trúc chuyên đề thực tập tốt nghiệp, phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật và kỹ năng rà soát hợp đồng dịch vụ.
  • Cán bộ pháp chế và quản lý doanh nghiệp truyền thông, quảng cáo: Tham khảo các phân tích về lỗi thường gặp trong hợp đồng mẫu dịch vụ quảng cáo trực tuyến, quy trình thẩm tra hồ sơ điều kiện sản phẩm và kinh nghiệm phòng ngừa rủi ro pháp lý.
  • Cơ quan quản lý nhà nước: Nhìn nhận các phản ánh thực tế về sự chồng chéo giữa các thông tư hướng dẫn và hiện tượng phát sinh thủ tục hành chính ngoài luật tại các địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Luật Quảng cáo năm 2012 có điểm gì mới nổi bật so với Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001 đối với quảng cáo trên môi trường mạng?

Luật Quảng cáo năm 2012 thay thế thuật ngữ "Mạng thông tin máy tính" bằng "Trang thông tin điện tử, thiết bị điện tử, thiết bị đầu cuối và các thiết bị viễn thông khác"; bãi bỏ thủ tục cấp Giấy phép thực hiện quảng cáo trên mạng (chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm); đồng thời bổ sung các yêu cầu kỹ thuật cụ thể như không bố trí quảng cáo lẫn vào nội dung tin và khống chế thời gian chờ tắt/mở quảng cáo không cố định tối đa là 1,5 giây.

2. Điểm bất cập pháp lý lớn nhất trong hợp đồng dịch vụ quảng cáo mẫu của Công ty Kiến Việt là gì?

Đó là điều khoản quy định "Bên B không chịu trách nhiệm pháp lý về các nội dung quảng cáo của bên A". Quy định này trái với Khoản 2 Điều 13 Luật Quảng cáo năm 2012, vốn quy định người kinh doanh dịch vụ quảng cáo có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo do mình trực tiếp thực hiện.

3. Quy định nào tại Nghị định số 181/2013/NĐ-CP bị đánh giá là mâu thuẫn với Luật Quảng cáo năm 2012?

Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP quy định quảng cáo hàng hóa, dịch vụ đặc biệt chỉ được thực hiện sau khi được cơ quan nhà nước xác nhận nội dung. Quy định này làm phát sinh thêm một loại giấy phép con, đi ngược lại Khoản 2 Điều 19 Luật Quảng cáo năm 2012 (vốn chỉ quy định yêu cầu về nội dung mà không bắt buộc phải xin xác nhận trước).

4. Bảng giá dịch vụ quảng cáo trên website kienviet.net được công ty quy định như thế nào?

Theo số liệu trong chuyên đề, công ty áp dụng mức giá banner cố định từ 2.000 VNĐ/tháng trở lên tùy vị trí; dịch vụ giới thiệu trong danh bạ công ty có giá 500.000 VNĐ/tháng; đăng bài PR có giá 3.000.000 VNĐ/bài (chưa bao gồm thuế GTGT 10% và các chi phí thiết kế, viết bài phát sinh).

5. Số lượng tranh chấp hợp đồng quảng cáo tại Công ty Kiến Việt phát sinh bao nhiêu vụ và được giải quyết theo hình thức nào?

Kể từ khi thành lập đến thời điểm khảo sát, công ty phát sinh khoảng 20 vụ tranh chấp hợp đồng (nguyên nhân chủ yếu do đối tác chậm thanh toán). Công ty đã giải quyết dứt điểm 100% các tranh chấp này thông qua phương thức tự thương lượng giữa các bên mà không qua thủ tục tố tụng.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Nga đã hệ thống hóa toàn diện khung pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ quảng cáo trên trang thông tin điện tử trong giai đoạn chuyển giao giữa Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001 và Luật Quảng cáo năm 2012. Thông qua nghiên cứu thực tế tại Công ty Cổ phần Thiết kế và Truyền thông Kiến Việt, công trình đã chỉ rõ những lỗ hổng pháp lý trong việc soạn thảo hợp đồng dịch vụ mẫu và các rào cản hành chính từ văn bản dưới luật. Các kiến nghị được đề xuất mang tính thiết thực, đóng góp cơ sở dữ liệu hữu ích cho việc hoàn thiện chính sách quản lý quảng cáo trực tuyến và nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp truyền thông vừa và nhỏ.