Tổng quan nghiên cứu

Đầu tư công giữ vai trò xương sống trong việc kiến tạo hạ tầng kinh tế - xã hội, chiếm tỷ trọng bình quân khoảng 45% tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội tại Việt Nam từ năm 2000 đến nay. Song hành với đó, hoạt động mua sắm công tại các quốc gia đang phát triển thường chiếm khoảng 15% đến 20% GDP và chiếm trên 50% tổng chi tiêu ngân sách chính phủ. Riêng tại Việt Nam, quy mô mua sắm chính phủ đã gia tăng nhanh chóng từ mức 9% lên 22% GDP trong giai đoạn 2007-2010. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng nguồn vốn nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế do tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát và các hành vi tiêu cực. Điển hình là giai đoạn 2012-2014, tỷ lệ áp dụng hình thức chỉ định thầu chiếm xấp xỉ 73% tổng số gói thầu, làm suy giảm tính cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.

Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Vương Quan Khải, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Đoàn Thị Phương Diệp tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2016, tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Đánh giá cơ chế kiểm soát vốn nhà nước của Luật Đấu thầu năm 2013 và làm rõ nguyên nhân khiến hoạt động đấu thầu trong thực tiễn vẫn chưa đạt hiệu quả tối ưu. Mục tiêu nghiên cứu hướng đến việc mổ xẻ những bất cập pháp lý, phân tích thực trạng áp dụng tại các đơn vị sự nghiệp công lập trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật tiệm cận chuẩn mực quốc tế.

Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh Việt Nam cần cải thiện Chỉ số Công khai Ngân sách vốn chỉ đạt 18/100 điểm vào năm 2015 và nâng cao Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng khi đang xếp hạng 112/168 quốc gia. Việc chuẩn hóa quy trình đấu thầu ước tính giúp tiết kiệm từ 10% đến 15% nguồn vốn ngân sách cho mỗi dự án đầu tư phát triển.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng hai lý thuyết nền tảng trong kinh tế chính trị học và quản trị công gồm Lý thuyết Lựa chọn công (Public Choice Theory) và Lý thuyết Đại diện (Principal-Agent Theory). Lý thuyết Đại diện giải thích rõ nét sự bất cân xứng thông tin và xung đột lợi ích giữa cơ quan nhà nước, chủ đầu tư với các bên mời thầu và nhà thầu tham gia. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng Khung quản trị mua sắm công của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cùng Luật mẫu về Mua sắm công năm 2011 của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL) để làm hệ quy chiếu đánh giá.

Hệ thống lý thuyết tập trung phân tích 5 khái niệm nòng cốt:

  • Mua sắm công: Hoạt động chi tiêu của các cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước nhằm phục vụ nhu cầu hoạt động thường xuyên và phát triển kết cấu hạ tầng.
  • Đấu thầu cạnh tranh: Phương thức lựa chọn nhà thầu tối ưu thông qua việc so sánh chất lượng kỹ thuật và chi phí trên một mặt bằng quy chuẩn.
  • Giá đánh giá: Giá dự thầu sau khi sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch và quy đổi toàn bộ chi phí vòng đời sản phẩm.
  • Xung đột lợi ích: Tình trạng cán bộ, công chức có mối liên hệ lợi ích cá nhân gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính khách quan của quá trình chấm thầu.
  • Chỉ định thầu: Hình thức lựa chọn nhà thầu trực tiếp mang tính đặc thù nhưng tiềm ẩn nguy cơ triệt tiêu cạnh tranh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp thông qua việc khảo sát thực tế tại hơn 10 gói thầu xây lắp và mua sắm thiết bị công nghệ tiêu biểu. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling), tập trung vào các gói thầu có dấu hiệu hạn chế cạnh tranh tại khu vực TP. Hồ Chí Minh và một số địa phương lân cận. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm bóc tách trực tiếp các lỗ hổng kỹ thuật trong hồ sơ mời thầu mà phương pháp thống kê ngẫu nhiên khó phát hiện. Đồng thời, tác giả tiến hành phỏng vấn định tính chuyên sâu nhóm 15 chuyên gia đấu thầu kỳ cựu đến từ các công ty tư vấn đầu ngành như Nagecco, Accco, Pvoil và SACD.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong timeline từ năm 2013 đến năm 2016. Tác giả kết hợp phương pháp luật học so sánh, quy nạp và duy vật biện chứng để đối chiếu các điều khoản của Luật Đấu thầu năm 2013, Nghị định 63/2014/NĐ-CP với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA và TPP.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc hạ thấp hạn mức chỉ định thầu tại Nghị định 63/2014/NĐ-CP xuống còn 500 triệu đồng đối với gói thầu tư vấn và 1 tỷ đồng đối với xây lắp tạo ra áp lực hành chính nặng nề. So sánh quốc tế cho thấy hạn mức này của Việt Nam quá khắt khe khi Úc cho phép chỉ định thầu đến khoảng 4,2 tỷ đồng, Malaysia áp dụng mức 2,5 tỷ đồng và Liên minh Châu Âu cho phép khoảng 1,5 tỷ đồng. Điều này dẫn đến phản ứng tiêu cực là hiện tượng chia nhỏ gói thầu nhằm lách luật.

Thứ hai, tình trạng cài cắm điều kiện kỹ thuật bất hợp lý trong hồ sơ mời thầu (HSMT) diễn ra phổ biến nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh. Điển hình tại gói thầu xây lắp trụ sở ngân hàng ở Quận 1 TP. Hồ Chí Minh, bên mời thầu yêu cầu tới 10 xe bơm bê tông tự hành cho diện tích sàn chỉ 330m2. Tương tự, tại dự án nâng cấp đường thị trấn Châu Hưng ở Bạc Liêu trị giá 3,7 tỷ đồng, bên mời thầu đưa tiêu chí sở hữu xe cẩu trên 250 tấn để định hướng cho một nhà thầu thân quen trúng thầu với mức giá 3,6 tỷ đồng, tỷ lệ tiết kiệm ngân sách chỉ đạt mức danh nghĩa chưa đầy 2,7%.

Thứ ba, công thức xác định giá đánh giá bị thao túng qua hệ số quy đổi xuất xứ hàng hóa. Tại một số gói thầu mua sắm thiết bị, đơn vị tư vấn tự ý đưa hệ số K từ 1,0 đến 1,3 để nâng giá hoặc hạ giá của các nhóm xuất xứ mà không dựa trên bất kỳ chứng cứ khoa học nào, trực tiếp tạo ra sự bất bình đẳng cho hàng hóa nội địa.

Thứ tư, tình trạng thông thầu và cản trở dự thầu diễn biến nghiêm trọng dưới 4 hình thức chủ yếu: xoay thầu, phân chia thị trường, dàn xếp thầu phụ và nộp hồ sơ cover thiếu bảo lãnh dự thầu. Thậm chí xuất hiện các vụ cướp hồ sơ dự thầu công khai như gói thầu kênh EaKeo trị giá hơn 81 tỷ đồng tại Đắk Lắk hay gói thầu cầu Trường Cửu tại Bình Định khiến nhà tài trợ quốc tế phải hủy bỏ kết quả.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh lỗ hổng trong các quy định pháp luật hiện hành. Quy định phương thức đấu thầu hai giai đoạn hai túi hồ sơ tại Điều 31 Luật Đấu thầu năm 2013 bắt buộc nhà thầu nộp giá ngay từ giai đoạn 1 là điểm bất hợp lý lớn, đi ngược lại thông lệ của UNCITRAL và Ngân hàng Thế giới vốn chỉ yêu cầu đề xuất kỹ thuật mở.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy nguy cơ thất thoát do tham nhũng trong mua sắm công là vấn nạn mang tính toàn cầu, tương tự ước tính của Ủy ban Châu Âu về mức thiệt hại khoảng 120 tỷ Euro mỗi năm. Để các cơ quan thanh tra dễ dàng nhận diện sai phạm, dữ liệu thực tiễn có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ cột so sánh hạn mức chỉ định thầu quốc tế và bảng ma trận nhận diện 4 hành vi thông thầu điển hình. Việc thiếu vắng chế tài hình sự xử lý xung đột lợi ích khiến các quy định bảo đảm cạnh tranh tại Điều 6 Luật Đấu thầu năm 2013 vẫn mang tính hình thức.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý về phương thức và hạn mức lựa chọn nhà thầu. Cơ quan lập pháp cần sửa đổi Điều 31 Luật Đấu thầu năm 2013 theo hướng bãi bỏ yêu cầu nộp đề xuất tài chính trong giai đoạn 1 của phương thức đấu thầu hai giai đoạn. Đồng thời, nâng hạn mức chỉ định thầu lên mức hợp lý tương thích với tốc độ tăng trưởng kinh tế và cam kết mở cửa gói thầu xây lắp 2.000 SDR trong các hiệp định thương mại tự do. Mục tiêu giảm tỷ lệ khiếu nại phát sinh xuống dưới 5%. Timeline thực hiện từ năm 2017 đến năm 2020 do Quốc hội và Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì.

Thứ hai, chuẩn hóa tiêu chuẩn kỹ thuật và công thức xác định giá đánh giá. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết phương pháp tính toán chi phí vòng đời và hệ số quy đổi xuất xứ. Thành lập hội đồng khoa học độc lập thẩm định 100% hồ sơ mời thầu các dự án công nghệ cao trước khi phê duyệt phát hành nhằm triệt tiêu hoàn toàn các tiêu chí cài cắm. Timeline hoàn thiện trong giai đoạn 2017-2019.

Thứ ba, đẩy mạnh triển khai đấu thầu qua mạng và mua sắm tập trung. Bắt buộc các đơn vị sự nghiệp công lập tăng tỷ lệ đấu thầu điện tử đạt tối thiểu 50% số lượng gói thầu mua sắm hàng hóa thường xuyên theo lộ trình Thông tư liên tịch 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC. Mục tiêu giúp cắt giảm 100% việc tiếp xúc trực tiếp giữa bên mua và bên bán, tiết kiệm từ 10% đến 15% chi phí ngân sách. Timeline thực hiện xuyên suốt giai đoạn 2016-2025.

Thứ tư, siết chặt cơ chế giám sát và nâng cao chế tài xử phạt. Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp cần bổ sung tội danh độc lập về hành vi vi phạm quy định đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng và lạm dụng chức vụ trục lợi công trong Bộ luật Hình sự. Xử lý nghiêm minh mọi hành vi bảo kê, cản trở nộp hồ sơ dự thầu nhằm cải thiện điểm số công khai ngân sách quốc gia. Timeline triển khai từ năm 2018 đến năm 2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính có thể sử dụng các phân tích so sánh luật học làm luận cứ thực tiễn để sửa đổi Luật Đấu thầu và xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành tương thích với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Nhóm chủ đầu tư, ban quản lý dự án và đơn vị sự nghiệp công lập: Luận văn cung cấp cẩm nang tham chiếu giúp nhận diện các sai sót pháp lý trong quá trình lập, thẩm định hồ sơ mời thầu, phòng ngừa các rủi ro liên quan đến xung đột lợi ích và nâng cao năng lực quản lý dự án.

Nhóm doanh nghiệp và nhà thầu: Tài liệu giúp các nhà thầu nhận biết các rào cản kỹ thuật bất hợp lý, nắm vững quy trình khiếu nại pháp lý và hiểu rõ các tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ thầu để xây dựng chiến lược dự thầu minh bạch, hiệu quả.

Nhóm nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành Luật Kinh tế: Nguồn tư liệu chuyên khảo giá trị về luật mua sắm công với phương pháp tiếp cận ca bệnh thực tế và hệ thống dẫn chiếu luật mẫu quốc tế chuẩn mực.

Câu hỏi thường gặp

Phương thức đấu thầu hai giai đoạn hai túi hồ sơ tại Việt Nam có điểm gì bất cập? Luật Đấu thầu năm 2013 yêu cầu nhà thầu nộp đồng thời đề xuất tài chính ngay ở giai đoạn 1 nhưng không mở ra. Điều này gây lãng phí chi phí lập dự toán phức tạp của nhà thầu và trái với chuẩn mực quốc tế của UNCITRAL vốn chỉ yêu cầu nộp đề xuất kỹ thuật mở ở giai đoạn đầu.

Tại sao việc hạ thấp hạn mức chỉ định thầu tại Nghị định 63/2014/NĐ-CP lại tạo tác dụng ngược? Hạn mức 500 triệu đồng cho tư vấn và 1 tỷ đồng cho xây lắp là quá thấp so với thực tế trượt giá và quy mô thị trường. Quy định này khiến các đơn vị cơ sở gặp nhiều khó khăn hành chính, dẫn đến tình trạng lách luật bằng cách chia nhỏ gói thầu nhằm tiếp tục chỉ định thầu.

Bên mời thầu thường sử dụng thủ thuật nào để hạn chế sự tham gia của các nhà thầu? Bên mời thầu thường cài cắm các thông số kỹ thuật đặc thù chỉ một hãng sản xuất đáp ứng được, hoặc đưa ra các yêu cầu thiết bị phi lý như đòi hỏi xe cẩu trên 250 tấn cho gói thầu 3,7 tỷ đồng tại Bạc Liêu hay 10 xe bơm bê tông cho diện tích sàn 330m2.

Hiện tượng thông thầu diễn ra dưới những hình thức chủ yếu nào trong thực tế? Các hành vi thông thầu phổ biến gồm xoay thầu luân phiên trúng thầu, phân chia thị trường theo địa bàn, thỏa thuận nhường thầu để làm thầu phụ và cố tình nộp hồ sơ thiếu bảo lãnh dự thầu để làm quân xanh quân đỏ hỗ trợ cho nhà thầu đã được định sẵn.

Đấu thầu qua mạng mang lại giá trị cốt lõi gì trong phòng chống tham nhũng? Đấu thầu điện tử công khai toàn bộ dữ liệu hồ sơ trên hệ thống mạng quốc gia, loại bỏ sự can thiệp trực tiếp giữa người mua và người bán, ngăn chặn triệt để hành vi phong tỏa nộp hồ sơ hay cướp hồ sơ dự thầu từng xảy ra tại một số địa phương.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về pháp luật đấu thầu và mua sắm công, đối chiếu sâu sắc giữa luật thực định Việt Nam với chuẩn mực quốc tế như UNCITRAL, World Bank và OECD.
  • Phân tích bóc tách các bất cập nổi cộm trong thực tiễn như sự lạm dụng chỉ định thầu, thủ thuật cài cắm tiêu chí kỹ thuật và sự tùy tiện của công thức tính giá đánh giá.
  • Luận văn đóng góp hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ gồm sửa đổi quy trình đấu thầu hai giai đoạn, điều chỉnh hạn mức chỉ định thầu và chuẩn hóa các tiêu chuẩn kỹ thuật.
  • Đề xuất lộ trình hiện đại hóa hoạt động đấu thầu thông qua áp dụng triệt để đấu thầu qua mạng giai đoạn 2016-2025 và hình sự hóa các hành vi xung đột lợi ích.
  • Nghiên cứu là tài liệu tham khảo cấp thiết cho các cơ quan lập pháp, chủ đầu tư và doanh nghiệp trong tiến trình nâng cao hiệu quả chi tiêu công và hội nhập kinh tế quốc tế.