Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI 1. Khái quát về đăng ký đất đai 1. Khái niệm đăng ký đất đai Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính để Nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai. Để làm rõ được khái niệm đăng ký đất đai đầu tiên chúng ta phải tìm hiểu khái niệm đăng ký và khái niệm đất đai.
Khái niệm “đăng ký” được hiểu qua một số định nghĩa như sau: Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, năm 1998 thì “Đăng ký: Đứng ra khai báo để được cấp Giấy công nhận về quyền hạn, nghĩa vụ nào đó”1. Về vấn đề này, Trong thực tế, “đăng ký” có thể được hiểu là công việc của một cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức, cá nhân thực hiện việc ghi nhận hay xác nhận về một sự việc hay một tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người đăng ký, cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đứng ra đăng ký. Tác giả nhận thấy, qua những định nghĩa nêu trên, dù “đăng ký” được nhìn nhận và định nghĩa khác nhau, song vẫn có thể tổng hợp nội hàm của khái niệm đăng ký bao gồm các đặc điểm chủ yếu sau đây: “đăng ký là hành vi ghi vào sổ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”; “đăng ký làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người thực hiện đăng ký” và “những thông tin được ghi vào sổ của cơ quan đăng ký có thẩm quyền là chứng cứ khách quan, có giá trị chứng minh”. Đất đai là một loại tài sản đặc biệt, là tài nguyên đặc biệt của quốc gia- là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước.
Việt Nam quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu”, Nhà nước không trực tiếp thực hiện quyền “đại diện chủ sở hữu” mà trao quyền đó cho người sử 1 Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Đại từđiển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr. Quyền sử dụng đất là một loại quyền sử dụng đặc biệt, không giống quyền sử dụng đối với các tài sản thông thường khác như quy định tại Bộ Luật Dân sự. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất bằng các quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Quyền của người sử dụng đất gồm các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất.
Theo pháp luật Việt Nam trước khi ban hành Luật Đất đai năm 2013 “đăng ký đất đai” được gọi là “Đăng ký quyền sử dụng đất”, đến Luật Đất đai năm 2013 đã sử dụng cụm từ “đăng ký đất đai” thay thế cho “đăng ký quyền sử dụng đất” đã dùng trong các văn bản trước đó. Trong Luận văn tác giả sẽ sử dụng song song hai thuật ngữ “đăng ký đất đai” và “đăng ký quyền sử dụng đất”. Theo Ủy ban kinh tế Châu Âu của Liên Hiệp Quốc: Đăng ký đất đai là một quá trình xác lập và lưu trữ một cách chính thức các quyền lợi đối với đất đai dưới hình thức hoặc là đăng ký văn tự giao dịch hay đăng ký các loại văn kiện nào đó liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu, sử dụng, hoặc dưới hình thức đăng ký chủ quyền đất. Kết quả của quá trình đăng ký được thể hiện trong một sổ đăng ký (có thể là hồ sơ giấy tờ hoặc được kỹ thuật số hóa thành hồ sơ điện tử) với tất cả những thông tin về chủ sở hữu, chủ sử dụng và chủ quyền, hoặc những thay đổi về chủ quyền đối với những đơn vị đất đai được xác định2.
Theo Luật Đất đai năm 2013: “Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính”3. So với trước đây, đăng ký đất đai có nhiều thay đổi như: về phạm vi đăng ký: thực hiện đối với mọi trường hợp sử dụng đất (kể cả không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận) hay được giao quản lý đất và tài sản gắn liền với đất; về mục đích đăng ký: ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử 2 Đặng Anh Quân (2011), Hệ thống đăng ký đất đai theo pháp Luật Đất đai Việt Nam và Thụy Điển, Luận án tiến sỹ Luật học, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. 3 Theo khoản 15 Điều 3 Luật Đất đai 2013.
9 dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính mà không phải ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất như trước đây. Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, đăng ký quyền sử dụng đất là một loại hoạt động của quản lý nhà nước về đất đai cũng giống như các loại hoạt động quản lý nhà nước khác nó diễn ra theo một trình tự và phương thức nhất định, hay nói cách khác đăng ký quyền sử dụng đất chính là một thủ tục hành chính. Từ những phân tích nêu trên và trong nội dung của Luận văn, tác giả xin được định nghĩa đăng ký đất đai như sau: đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính, một trong những hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai, trong đó nội dung của đăng ký đất đai là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý những thông tin về thửa đất: nguồn gốc, hiện trạng, thời điểm, thời hạn, giấy tờ và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) của thửa đất phải đăng ký theo một thủ tục và trình tự luật định vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ hợp pháp của chủ sử dụng đất. Đặc điểm của đăng ký đất đai Thứ nhất, đăng ký đất đai được thực hiện với đối tượng đặc biệt là đất đai, được thể hiện ở các khía cạnh sau đây: Đất đai được xác định là một tài sản đặc biệt và có giá trị, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thiếu đối với mọi tổ chức và cá nhân, nhưng diện tích đất thì chỉ có giới hạn còn nhu cầu sử dụng của xã hội thì không ngừng tăng, đây là lý do giá đất luôn luôn có xu hướng tăng.
Đất đai ngày nay không những là tư liệu sản xuất mà còn được ghi nhận là “nguồn lực phát triển đất nước, là tài nguyên đặc biệt của quốc gia”- điều này được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013 và Luật Đất đai năm 2013. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý (Điều 4 - Luật Đất đai 2013) nhưng Nhà nước không trực tiếp thực hiện các quyền của mình mà Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Người sử dụng đất thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với mảnh đất được trao quyền theo đúng các 10 nguyên tắc sử dụng đất và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất. Mặt khác, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất bằng các quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất.
Như thế đăng ký đất đai không giống như đăng ký đối với các loại đối với các loại tài sản thông thường khác: “quyền sử dụng đối với tài sản là việc khai thác những giá trị vật chất và tinh thần của tài sản để phục vụ nhu cầu thiết yếu của bản thân”4. Người sử dụng đất ngoài việc thực hiện quyền sử dụng như đối với một tài sản thông thường, còn được các quyền khác “quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất” và việc thực hiện các quyền này theo đúng mục đích sử dụng đất, thời hạn giao đất và đúng quy định của pháp luật. Trong khi đó quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật lại không đồng nhất giữa các thửa đất có mục đích sử dụng khác nhau, do tổ chức, cá nhân, v. khác nhau sử dụng.
Đất đai thường có các tài sản gắn liền gồm: nhà ở, công trình xây dựng trên đất, cây lâu năm, v. các tài sản này chỉ có giá trị nếu gắn liền với một thửa đất tại vị trí nhất định. Trong thực tế đời sống xã hội có nhiều trường hợp tài sản gắn liền với đất không thuộc quyền sở hữu của người sử dụng đất. Đăng ký đất đai phải đồng thời thực hiện cả hai việc: vừa ghi vào hồ sơ địa chính của cơ quan nhà nước để phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước đối với đất đai theo quy hoạch và theo pháp luật; vừa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất yên tâm sử dụng đất và đầu tư cho việc sử dụng và có điều kiện thực hiện các quyền của mình theo pháp luật.
Người sử dụng đất có quyền sử dụng đất, bên cạnh đó phải có nghĩa vụ đối với Nhà nước trong việc sử dụng đất được giao, được thuê. Đăng ký đất đai sẽ là điều kiện để người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Thứ hai, đăng ký đất đai được quy định trong những văn bản quy phạm pháp luật về đất đai 4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự, Nxb, Công an nhân dân, Hà Nội, 2013, tr. 11 Luật Đất đai là nguồn quan trọng nhất của đăng ký đất đai, tiếp theo là các nghị định, thông tư, quyết định của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Quy định trong những văn bản quy phạm pháp luật về đất đai là những quy định mang tính bắt buộc đối với các chủ thể liên quan. Những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật đất đai phải phù hợp với các quy định tại Hiến pháp và Luật Đất đai. Thứ ba, đăng ký đất đai là một nội dung mang tính đặc thù của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính bắt buộc đối với người sử dụng đất nhằm thiết lập mối quan hệ ràng buộc về pháp lý giữa Nhà nước và người sử dụng đất.