Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển nhanh chóng, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng từ 740 USD năm 2006 lên mức 1060 USD vào năm 2009. Tuy nhiên, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng sâu sắc đi kèm các rủi ro môi trường, thiên tai và dịch bệnh đã khiến nhu cầu trợ giúp của các nhóm yếu thế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Theo ước tính từ Tổ chức Y tế Thế giới, nhóm người khuyết tật hiện chiếm khoảng 10% tổng dân số cả nước, đặt ra thách thức nặng nề cho hệ thống an sinh xã hội. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của công trình là giải quyết khoảng cách giữa các quy định pháp luật hiện hành và nhu cầu thực tế của người dân yếu thế trong xã hội. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể nhằm làm sáng tỏ hệ thống cơ sở lý luận về cứu trợ xã hội, đánh giá thực trạng chính sách pháp lý từ giai đoạn Nghị định 07/2000/NĐ-CP đến Nghị định 13/2010/NĐ-CP, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung pháp luật an sinh xã hội nước nhà. Phạm vi nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào các chế độ cứu trợ xã hội thường xuyên và cứu trợ xã hội đột xuất trên phạm vi cả nước giai đoạn 2000 đến 2010. Ý nghĩa của luận văn được thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học định lượng nhằm mở rộng đối tượng thụ hưởng từ 4 diện ban đầu lên 9 diện chính sách, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn kinh phí dự phòng từ 2% đến 5% tại ngân sách các địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết an sinh xã hội hiện đại kết hợp với khung chuẩn mực quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 và các văn kiện quốc tế. Nghiên cứu tham chiếu trực tiếp Khuyến nghị 67 năm 1944 về đảm bảo phương tiện sinh sống, Khuyến nghị 69 năm 1944 về chăm sóc y tế và Công ước 102 năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế về quy phạm tối thiểu an sinh xã hội, hiện đã được áp dụng rộng rãi tại 172 quốc gia. Khung lý thuyết phân định rõ ba khái niệm nền tảng: cứu tế xã hội mang tính chất khẩn cấp tức thời; trợ giúp xã hội mang tính ổn định lâu dài nhằm phát huy nội lực tự lập; và cứu trợ xã hội với tư cách là trụ cột an sinh mang tính chất phân phối lại của cải, không vì mục đích lợi nhuận. Luận văn xây dựng trên ba nguyên tắc cốt lõi: mức trợ cấp không phụ thuộc vào mức độ đóng góp tài chính trước đó; cân đối giữa nhu cầu thực tế với khả năng ngân sách; và đa dạng hóa, xã hội hóa nguồn lực thực hiện.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng dữ liệu thống kê quản lý thực tế về 691.920 người cao tuổi và 279.429 người tàn tật đang hưởng trợ cấp xã hội. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 100% hồ sơ quản trị đối tượng an sinh xã hội trên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia giai đoạn 2005 đến 2010. Phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu toàn diện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện tuyệt đối cho 9 nhóm đối tượng bảo trợ xã hội tại 63 tỉnh thành. Tác giả lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm pháp luật kết hợp phương pháp thống kê mô tả và so sánh luật học với Canada (tiêu chuẩn người cao tuổi từ 65 tuổi) và Đan Mạch (tiêu chuẩn suy giảm 50% khả năng lao động). Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đảm bảo tính khách quan khoa học, đối chiếu trực tiếp giữa quy định trên văn bản và hiệu lực vận hành trên thực tế, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho các đề xuất sửa đổi luật.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, pháp luật Việt Nam đã có bước tiến vượt bậc trong việc mở rộng diện bao phủ, tăng từ 4 nhóm đối tượng theo Nghị định 07/2000/NĐ-CP lên 9 nhóm đối tượng theo Nghị định 13/2010/NĐ-CP. Tổng số người hưởng trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng đã đạt trên 1,6 triệu người.

Thứ hai, cơ cấu đối tượng thụ hưởng phản ánh tỷ trọng chênh lệch rõ rệt giữa các nhóm hoàn cảnh. Nhóm người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu chiếm tỷ trọng áp đảo với 43,1% (tương đương 691.920 người), nhóm người tàn tật chiếm 24,5% (tương đương 279.429 người), người già cô đơn chiếm khoảng 9,6%, người mắc bệnh tâm thần chiếm 8,6% (khoảng 94.000 người), người đơn thân nuôi con nhỏ thuộc hộ nghèo chiếm 7,6%, và trẻ em mồ côi chiếm 5,0% (56.578 trẻ).

Thứ ba, thực trạng đời sống của người yếu thế còn gặp nhiều rào cản nghiêm trọng. Trong nhóm người tàn tật, có tới 41% người không biết chữ, trên 94% người trong độ tuổi lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, và chỉ có vỏn vẹn 1,22% đang được học nghề. Khoảng 60% hộ gia đình có người tàn tật chỉ đạt mức sống trung bình, 1/3 thuộc diện hộ nghèo và 17,59% hộ chưa từng nhận được bất kỳ chính sách hỗ trợ nào.

Thứ tư, mức chuẩn trợ cấp cứu trợ xã hội thường xuyên 180.000 đồng/tháng (hệ số 1) theo Nghị định 13/2010/NĐ-CP dù đã tăng 50% so với mức 120.000 đồng trước đây, nhưng vẫn còn quá thấp khi chỉ đáp ứng được 24,66% mức lương tối thiểu chung (730.000 đồng/tháng áp dụng từ tháng 5/2010) và thấp hơn chuẩn nghèo nông thôn giai đoạn 2005-2010 là 200.000 đồng/tháng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của việc mức trợ cấp chưa bù đắp được nhu cầu sống tối thiểu bắt nguồn từ giới hạn nguồn lực kinh tế quốc gia, khi chỉ số GDP của Việt Nam còn thấp hơn đáng kể so với Thái Lan (2.262 USD) hay Indonesia (1.146 USD). Trong phần trình bày dữ liệu, cơ cấu đối tượng thụ hưởng có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ tròn ba chiều nhằm làm nổi bật tỷ trọng 43,1% của nhóm người cao tuổi và 24,5% của nhóm người tàn tật. Tương quan giữa mức chuẩn trợ cấp 180.000 đồng với chuẩn nghèo thành thị 260.000 đồng và mức lương tối thiểu 730.000 đồng nên được trực quan hóa qua biểu đồ cột so sánh để thấy rõ khoảng cách an sinh.

Bên cạnh đó, các quy định cứu trợ đột xuất hiện nay bộc lộ tính cào bằng khi ấn định mức hỗ trợ hộ gia đình có người chết là 4.000.000 đồng, người bị thương nặng là 1.000.000 đồng, nhà sập hoặc di dời khẩn cấp là 6.000.000 đồng và vùng khó khăn là 7.000.000 đồng mà không thẩm định điều kiện kinh tế thực tế của từng hộ. Ngoài ra, khung pháp lý hiện hành còn bỏ sót các nhóm đối tượng đặc thù như nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân buôn bán người, trẻ em lang thang, cũng như người nước ngoài gặp rủi ro thiên tai trên lãnh thổ Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần khẩn trương xây dựng và ban hành Luật Cứu trợ xã hội chuyên biệt trong giai đoạn 2012-2015, nâng cấp địa vị pháp lý từ các nghị định đơn lẻ thành đạo luật thống nhất để điều chỉnh toàn diện các quan hệ an sinh xã hội.

Thứ hai, Chính phủ và Bộ Tài chính cần phối hợp điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ cấp cứu trợ xã hội thường xuyên từ 180.000 đồng lên mức tối thiểu 350.000 đến 450.000 đồng/tháng theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015, hướng tới mục tiêu đảm bảo mức hỗ trợ đạt tối thiểu 50% mức sống tối thiểu của người dân trong giai đoạn 5 năm tới.

Thứ ba, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần sửa đổi tiêu chí xác định đối tượng thụ hưởng chính sách. Cụ thể, cần bổ sung tiêu chí thẩm định thu nhập thực tế đối với người từ 85 tuổi trở lên để tránh hiện tượng trục lợi chính sách; điều chỉnh giới hạn tuổi trẻ mồ côi từ 15 đến dưới 18 tuổi nhằm khuyến khích khả năng tự lập lao động; đồng thời bổ sung ngay nhóm nạn nhân bạo lực gia đình và nạn nhân bị xâm hại vào danh mục trợ cấp thường xuyên.

Thứ tư, Ủy ban nhân dân các cấp cần tăng cường hiệu quả quản lý tài chính bằng cách nâng tỷ lệ trích lập quỹ dự phòng ngân sách địa phương từ 2% - 5% lên mức ổn định 5% - 7% tổng thu ngân sách. Đồng thời, cần đa dạng hóa các nguồn tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ và khối doanh nghiệp nhằm huy động thêm 20% đến 30% nguồn vốn xã hội hóa phục vụ công tác an sinh xã hội.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại 63 tỉnh thành: Sử dụng các phân tích pháp lý và số liệu thực chứng để soạn thảo, sửa đổi các nghị định hướng dẫn, điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp vượt mốc 180.000 đồng cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật An sinh xã hội, Xã hội học: Khai thác hệ thống khung lý thuyết chuẩn hóa, mô hình so sánh giữa 172 quốc gia thành viên của Tổ chức Lao động Quốc tế để phục vụ hoạt động giảng dạy và phát triển các đề tài khoa học chuyên sâu.

Nhóm các tổ chức phi chính phủ, quỹ từ thiện và tổ chức xã hội nhân đạo: Tham khảo bức tranh thực trạng về 279.429 người tàn tật và 56.578 trẻ em mồ côi để thiết kế các dự án tài trợ phát triển sinh kế, đào tạo nghề và chăm sóc y tế cộng đồng đúng trọng tâm, trọng điểm.

Nhóm cán bộ thực thi chính sách an sinh xã hội tại cấp xã, phường, thị trấn: Vận dụng các phát hiện thực tế để nâng cao tính chính xác trong công tác thẩm định hồ sơ 9 nhóm đối tượng thường xuyên và triển khai nhanh chóng các gói cứu trợ đột xuất từ 1.000.000 đến 7.000.000 đồng khi có thiên tai, biến cố.

Câu hỏi thường gặp

Mức chuẩn trợ cấp cứu trợ xã hội thường xuyên theo Nghị định 13/2010/NĐ-CP được quy định là bao nhiêu? Mức chuẩn trợ cấp xã hội thường xuyên áp dụng là 180.000 đồng/tháng/đối tượng với hệ số 1, tăng 50% so với mức 120.000 đồng quy định tại Nghị định 67/2007/NĐ-CP. Mức hưởng thực tế sẽ được nhân theo từng hệ số cụ thể cho từng đối tượng, đạt mức tối đa lên tới 720.000 đồng/tháng.

Nhóm đối tượng nào chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh sách bảo trợ xã hội thường xuyên? Theo số liệu thống kê thực tế, nhóm người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu chiếm tỷ trọng lớn nhất với 43,1% (691.920 người), tiếp theo là nhóm người tàn tật chiếm 24,5% (279.429 người), người mắc bệnh tâm thần chiếm 8,6% và trẻ em mồ côi chiếm 5,0%.

Định mức cứu trợ xã hội đột xuất cho các trường hợp gặp thiên tai, hỏa hoạn là bao nhiêu? Pháp luật quy định mức hỗ trợ một lần đối với hộ gia đình gồm 4.000.000 đồng khi có người chết hoặc mất tích, 1.000.000 đồng đối với người bị thương nặng, 6.000.000 đồng khi nhà ở bị sập đổ hoặc phải di dời khẩn cấp, và 7.000.000 đồng đối với hộ sống tại vùng khó khăn.

Tại sao mức trợ cấp 180.000 đồng/tháng bị coi là chưa đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu? Mức 180.000 đồng/tháng chỉ tương đương 24,66% mức lương tối thiểu chung (730.000 đồng vào năm 2010), đồng thời thấp hơn mức chuẩn nghèo nông thôn (200.000 đồng) và thành thị (260.000 đồng), khiến đối tượng thụ hưởng không thể tự trang trải chi phí lương thực và chăm sóc sức khỏe cơ bản.

Ngân sách địa phương đóng vai trò như thế nào trong hoạt động cứu trợ xã hội? Theo Luật Ngân sách Nhà nước, các địa phương có trách nhiệm trích từ 2% đến 5% tổng nguồn thu ngân sách địa phương hàng năm để lập quỹ dự phòng, chủ động chi trả kịp thời cho các hoạt động phòng chống thiên tai, dịch bệnh và cứu tế đột xuất trên địa bàn.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về cứu trợ xã hội như một quyền con người cơ bản và là lưới đỡ kinh tế cuối cùng của mạng lưới an sinh quốc gia.
  • Đánh giá bước chuyển biến tích cực trong việc mở rộng diện bao phủ chính sách từ 4 nhóm lên 9 nhóm đối tượng yếu thế được bảo trợ thường xuyên.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về việc mức chuẩn 180.000 đồng/tháng mới chỉ đáp ứng 24,66% mức lương tối thiểu, đòi hỏi phải sớm cải cách.
  • Phân tích cơ chế tài chính từ nguồn dự phòng ngân sách địa phương 2% đến 5% và khẳng định tính cấp thiết của việc xã hội hóa nguồn lực cứu trợ.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp lập pháp mang tính đột phá với trọng tâm là lộ trình ban hành Luật Cứu trợ xã hội chuyên biệt trước năm 2015.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn vững chắc giúp các nhà lập pháp tái định hình chính sách trợ giúp xã hội, đảm bảo công bằng và an toàn xã hội trong nền kinh tế thị trường. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu cần tiếp tục khai thác các kết quả này để sớm hoàn thiện thể chế pháp lý, hiện thực hóa mục tiêu không để bất kỳ người yếu thế nào bị bỏ lại phía sau.