Chương 1: Khuôn khổ pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn Nhà nước Chương 2: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tổ chức và quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn Nhà nước Mặc dù đã cố gắng để hoàn thành khóa luận này nhưng do phạm vi kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi sự thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý đến từ các thầy cô và đọc giả quan tâm đến đề tài này. 6 CHƢƠNG 1 KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN 100% VỐN NHÀ NƢỚC 1. Khái quát về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn Nhà nƣớc 1.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 1. Khái niệm Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH MTV) là một loại hình doanh nghiệp (DN) được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp (LDN), do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty (khoản 1 Điều 73 LDN 2014). Công ty TNHH MTV có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCN ĐKDN). Xét về góc độ pháp nhân, một tổ chức muốn được công nhận là có tư cách pháp nhân thì phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện về pháp lý, cụ thể quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tức là phải được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự hoặc luật khác có liên quan; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập thì khi đó doanh nghiệp mới được pháp luật công nhận là có tư cách pháp nhân. Công ty TNHH MTV có đầy đủ bốn tiêu chí nêu trên. Đặc điểm Tư cách pháp lý: công ty TNHH MTV có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp GCN ĐKDN (khoản 2 Điều 73 LDN 2014). Chủ sở hữu công ty và công ty là có mối quan hệ độc lập với nhau trong tài sản.
Chủ sở hữu của công ty TNHH MTV: chủ sở hữu của công ty có thể là cá nhân hoặc tổ chức (khoản 1 Điều 73 LDN 2014). So với loại hình doanh nghiệp tư nhân, chỉ có thể do một cá nhân làm chủ sở hữu. Do đó, về tiêu chí chủ sở hữu thì phạm vi về chủ sở hữu của công ty TNHH MTV rộng hơn so với doanh nghiệp tư nhân. Vốn điều lệ: vốn điều lệ của công ty do chủ sở hữu của công ty góp vào công ty để thành lập và hoạt động (Điều 74 LDN 2014).
Điều này khác biệt so 7 với sự liên kết góp vốn của nhiều thành viên như công ty cổ phần (CTCP) hay công ty TNHH hai thành viên trở lên. Trách nhiệm khoản nợ và nghĩa vụ tài sản: chủ sở hữu của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty được ghi trong GCN ĐKDN (khoản 1 Điều 73 LDN 2014). Quyền phát hành chứng khoán: cũng giống như loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH MTV không được phát hành cổ phần để huy động vốn (khoản 3 Điều 73 LDN 2014). Chuyển nhượng vốn: chủ sở hữu công ty được phép chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ cho tổ chức, cá nhân khác (khoản 5 Điều 76 LDN 2014).
Sau khi chuyển nhượng vốn, công ty có thể chuyển đổi thành loại hình doanh nghiệp khác, có thể là công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc CTCP (khoản 3 Điều 87 LDN 2014). Vai trò Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay, loại hình công ty TNHH MTV là một loại hình mới không thể thiếu. Đặc biệt, trong nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì loại hình TNHH đã tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh hạn chế rủi ro, giúp cho các nhà đầu tư có thể đầu tư vào bất cứ lĩnh vực kinh tế nào mà họ hướng đến, điều này đã thu hút được nhà đầu tư trong hoạt động kinh doanh. Sự xuất hiện, tồn tại của loại hình công ty TNHH nói chung và của loại hình công ty TNHH MTV nói riêng ở nước ta cũng là tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường và pháp luật phải thừa nhận sự tồn tại khách quan đó.1 Vì lẽ đó, để công ty TNHH MTV phát huy được vai trò chủ đạo thì trước hết nhà nước phải có những chính sách và quy định pháp luật hợp lý để chi phối trong quá trình thành lập và tổ chức quản lý các hoạt động của loại hình công ty này.
Lịch sử hình thành và phát triển Trên thế giới, mô hình công ty TNHH ra đời muộn nhất so với các loại hình doanh nghiệp khác, nó xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX và phát triển mạnh vào thế kỷ XX. Ở Việt Nam, loại hình công ty TNHH xuất hiện khi Quốc hội ban hành Luật Công ty vào ngày 21/12/1990, nhưng mô hình công ty TNHH MTV 1 Trường Đại học Luật TP.HCM (2014), Pháp luật về Chủ thể kinh doanh, Nhà xuất bản Hồng Đức– Hội Luật gia Việt Nam, tr. 8 thì mãi đến năm 1999 mới được đề cập trong LDN được Quốc hội thông qua ngày 12/06/1999. Đây được xem là văn bản ghi nhận chi tiết, có nhiều nét tiến bộ và khá đầy đủ về các loại hình doanh nghiệp.
Tuy nhiên, LDN 1999 chỉ cho phép tổ chức mới có quyền thành lập công ty TNHH MTV.2 Thế kỷ XXI, nền kinh tế nước ta phát triển mạnh và có nhiều sự đổi mới, thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Ngày 12/12/2005 Quốc hội đã thông qua Luật số 60/2005/QH11, thay thế cho LDN 1999, LDN Nhà nước và Luật Đầu tư Nước ngoài tại Việt Nam. LDN 2005 cho phép cả cá nhân và tổ chức đều được quyền thành lập công ty TNHH MTV. Việc cho phép cá nhân có thể trở thành chủ sở hữu công ty TNHH MTV đóng vai trò hết sức quan trọng nhằm tạo sự đa dạng hóa về chủ sở hữu công ty của loại hình doanh nghiệp này.
LDN 2014 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 26/11/2014, có hiệu lực từ ngày 01/07/2015, được coi là một bước đột phá mới, có ý nghĩa hết sức quan trọng khi vừa tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp và đang đi vào cuộc sống của LDN 2005, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung quy định mới nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của luật cũ, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế; đáp ứng được các nhu cầu thực tiễn của các doanh nghiệp. Ví dụ: Trong 6 tháng tháng đầu năm 2016, số công ty TNHH MTV thành lập mới là 29.343 doanh nghiệp (tăng 6.390 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm 2015), đứng đầu trong các loại hình doanh nghiệp thành lập mới và trong 6 tháng đầu năm 2017 thì số doanh nghiệp thành lập mới lại tập trung nhiều nhất ở loại hình công ty này với số doanh nghiệp đăng ký thành lập lên tới 34.493 doanh nghiệp (tăng 5.150 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm 2016).3 Do đây là loại hình doanh nghiệp mới nhất trong các loại hình doanh nghiệp, lại đáp ứng được nhu cầu kinh doanh cũng như chế độ chịu TNHH, nên đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà đầu tư. Vì vậy, từ khi mô hình công ty này xuất hiện cho đến nay, công ty TNHH MTV vẫn luôn dẫn đầu vị trí trong việc đăng ký thành lập mới. Qua ví dụ trên cho thấy, trong những năm gần đây số lượng thành lập mới loại hình doanh nghiệp này ngày càng gia tăng.
Điều này chứng tỏ hiện nay loại hình công ty TNHH MTV đang rất phổ biến ở Việt Nam. 2 Khoản 1 Điều 46 LDN 1999 3 Nguyễn Thị Lâm (2017), Pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Viện đại học Mở Hà Nội, tr. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn Nhà nước 1. Khái niệm Theo quy định tại khoản 7 Điều 4 LDN 2014 thì doanh nghiệp được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Còn doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được hiểu là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lý nhằm hoạt động kinh doanh thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao, hay nói cách khác chỉ có những doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ mới được gọi là DNNN (khoản 8 Điều 4 LDN 2014). Trong đó, DNNN bao gồm:“Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” (khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014). Đây là điểm mới của LDN 2014 so với LDN 2005. Trước đây, tại khoản 22 Điều 4 LDN 2005 quy định:“Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”.
Đặc điểm DNNN có tư cách pháp nhân tương tự như công ty TNHH MTV nói chung (khoản 2 Điều 73 LDN 2014), có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Về sở hữu vốn: công ty TNHH MTV 100% vốn Nhà nước do Nhà nước đầu tư vốn và trực tiếp thành lập, nên nó thuộc sở hữu Nhà nước. Tuy nhiên, công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ lại không có quyền sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp mà chỉ là người đứng ra quản lý tài sản và sản xuất, kinh doanh trên cơ sở Nhà nước sở hữu. Công ty TNHH MTV 100% vốn Nhà nước đều do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập khi thấy cần thiết.