Chương 1: Các vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật công chứng và hoạt động công chứng. Chương 2: Pháp luật về thành lập và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng và thực tiễn thực thi trên địa bàn Hà Nội Chương 3: Hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng. 5 z Chƣơng 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 1. Khái quát về công chứng và hoạt động công chứng 1.
Quan niệm chung về công chứng và hoạt động công chứng 1. Quan niệm công chứng trên thế giới Trên thế giới, nghề công chứng đã có lịch sử hình thành, phát triển hàng ngàn năm, gắn bó chặt chẽ với đời sống dân sự, được người dân và pháp luật tôn trọng. Công chứng và việc hành nghề của CCV đã góp phần tích cực cho công việc quản lý nhà nước và xã hội. Để hiểu rõ hơn về hoạt động công chứng, trước tiên phải tìm hiểu về nguồn gốc của khái niệm công chứng trên thế giới.
Theo định nghĩa tại từ điển online Legal Dictionary, CCV là “Một người mang công quyền, mà quyền hạn bao gồm quản lý việc tuyên thệ và xác nhận chữ ký, cả hai cách quan trọng và hiệu quả để giảm thiểu gian lận trong các tài liệu liên quan đến luật pháp (A public official whose main powers include administering oaths and attesting to signatures, both important and effective ways to minimize fraud in legal documents) [54]. Từ điển Luật học Mỹ, cũng định nghĩa công chứng (Notarial) là hoạt động của CCV. CCV, theo tiếng Latinh là “Notarius”. “Notarius” trong luật Anh cổ là một người sao chép hay trích lục các loại văn bản, giấy tờ khác, người làm chứng.
Có thể truy nguyên nguồn gốc của chức danh CCV từ thời đế chế La Mã cổ xưa. Sự ra đời của nghề công chứng ở Cộng hòa La Mã cổ đại được hình thành từ năm 106 đến năm 43 trước công nguyên, và gọi là notaries (công chứng) hay scribae (thầy tư tế). Về sau, trong luật La Mã đó là người ghi chép, thư ký, tốc ký, người ghi chép các hoạt động trong nghị viện của Tòa án, hoặc ghi chép theo lời người khác đọc, người soạn các di chúc và giấy chuyển nhượng sở hữu. Họ là nhánh lâu đời nhất trong ngành luật còn tồn tại đến ngày nay trên khắp thế giới [1].
6 z Theo các cách giải thích trên, xét về nguồn gốc, công chứng là nghề sớm xuất hiện trong lịch sử loài người với vai trò ghi chép, soạn thảo văn bản và làm chứng, tính chất của nghề CCV là một nhân viên công. Các nhân viên công, còn được gọi là ''thư ký'' là những người chuyên chép thuê. Thời gian trôi qua đã có sự thay đổi về tính chất nghề nghiệp trong các mối quan hệ giữa các lĩnh vực công - tư. Một số là nhân viên thường trực gắn bó với Viện nguyên lão và Tòa án, có trách nhiệm lưu giữ các biên bản, sao chép lại giấy tờ của nhà nước, hỗ trợ các quan tòa về các thủ tục pháp lý và ghi vào sổ các bản án và phán quyết của quan tòa [50, tr.
Pháp luật dân sự đã trải qua thời kỳ trung cổ đến thời kỳ phục hưng từ thế kỷ 12 trở đi, thời kỳ này, công chứng phát triển thành tổ chức nghề luật ở hầu hết các nước Châu Âu và Châu Mỹ. Nghiên cứu các tài liệu về công chứng cho thấy, từ trước tới nay trên thế giới luôn cùng tồn tại ba hệ thống công chứng: Hệ thống công chứng La tinh (Luật viết), hệ thống công chứng Anglo-sacxon ( Anh - Mỹ) và hệ thống công chứng nhà nước bao cấp (Collectiviste). - Hệ thống công chứng La tinh (chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống luật La mã, còn gọi là hệ thống pháp luật dân sự - Civil Law). Hệ thống này tồn tại ở hầu hết các nước thuộc cộng đồng châu Âu (trừ Đan Mạch và Anh); châu Phi (các nước thuộc địa cũ của Pháp); các nước châu Mỹ - La tinh, bang Quebec của Canada, bang Luisane của Hoa Kỳ, một số nước châu Á (Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ.
- Hệ thống công chứng Anglo-saxon, gắn liền với hệ thống pháp luật Anglo-Saxon (Common Law), tồn tại ở các quốc gia: Vương quốc Anh, Mỹ (trừ bang Luisane), Canada (trừ bang Quebec); Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Đài Loan. - Hệ thống công chứng Collectiviste (công chứng tập thể) tồn tại ở các nước XHCN trước đây và phát triển mạnh vào các năm 70 của thế kỷ 7 z XX đến trước năm 1990, bao gồm: Liên Xô, Ba Lan, Đông Đức, Bungari, Hungari, Rumani, Cu Ba, Trung Quốc, Việt Nam [18]. Mặc dù hình thành ba hệ thống công chứng như trên, song chung quy lại, chỉ có hai mô hình công chứng: mô hình công chứng tự do (ở hệ thống công chứng Latinh và hệ thống công chứng Anglo-Saxon) và mô hình công chứng nhà nước (chỉ tồn tại ở hệ thống công chứng Collectiviste). Ở mô hình công chứng tự do, các CCV được Nhà nước bổ nhiệm, hành nghề tự do theo quy định của pháp luật đối với các hình thức VPCC tư nhân hoặc VPCC tập thể, tự chủ trong tổ chức, hoạt động, tự hạch toán và đóng thuế cho Nhà nước.
CCV chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi công chứng của mình, phải bồi thường thiệt hại bằng tài khoản tiền ký quỹ của mình nếu hành vi công chứng gây thiệt hại cho khách hàng hoặc người thứ ba. Ở mô hình công chứng nhà nước, cơ quan công chứng là thiết chế nhà nước, CCV là công chức nhà nước, do nhà nước bổ nhiệm, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, CCV không phải chịu trách nhiệm vật chất trước đương sự về các hậu quả do hành vi công chứng trái pháp luật của mình gây ra, chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính trước nhà nước. Lệ phí công chứng được nộp cho ngân sách nhà nước, có trích lại một phần để trang trải thêm cho hoạt động của phòng công chứng. Có thể nói, với sự bao cấp toàn bộ của nhà nước, mô hình công chứng nhà nước chỉ phù hợp với cơ chế kế hoạch hoá tập trung và nền kinh tế hiện vật, trong đó, các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại không phát triển, ở đó, vai trò công chứng chủ yếu là nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản cá nhân [18].
Có thể thấy rõ ưu thế vượt trội của mô hình công chứng tự do so với mô hình công chứng nhà nước. Đó là sự đề cao, phát huy trách nhiệm cá nhân của CCV, tạo ra cơ chế cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực để các CCV phát huy tính tích cực, chủ động nhiệt tình trong hoạt động của mình, giảm nhẹ sự bao cấp của nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước tinh giản, gọn nhẹ, tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực công 8 z chứng. Mô hình tổ chức này không chỉ tiết kiệm cho ngân sách nhà nước mà còn tăng thu ngân sách thông qua việc đóng thuế của các CCV. Về mặt tổ chức và hoạt động, mô hình công chứng tự do tạo ra sự linh hoạt về mặt tổ chức, bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu công chứng của nhân dân.
Hoạt động công chứng Từ các quan niệm về công chứng ở trên, có thể thấy được, hoạt động công chứng là hành vi của CCV nhằm lập, chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng, giao dịch với mục đích đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật. Khởi nguồn của hoạt động công chứng là hoạt động của xã hội, với vai trò làm chứng của quần chúng nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, khách quan của các khế ước, văn tự được lập, đề phòng sự tranh chấp, lật lọng. Có thể nói, ở giai đoạn đầu của lịch sử công chứng, công chứng chính là nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi họ tham gia các hợp đồng, giao dịch chứ chưa phải nhu cầu của quản lý nhà nước. Như vậy, công chứng là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc.
Mặt khác, với vai trò chủ yếu là hỗ trợ công dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức trong các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại; phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật; hỗ trợ quản lý nhà nước, góp phần bảo đảm ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại phát triển và hỗ trợ tư pháp thông qua việc cung cấp chứng cứ cho hoạt động xét xử, công chứng là một nghề có tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa phục vụ cho lợi ích chung của xã hội, cộng đồng. Với vai trò quan trọng như trên, công chứng đã trở thành đối tượng quản lý của nhà nước. Thậm chí, ở một số quốc gia, trong những điều kiện lịch sử nhất định, công chứng còn trở thành một hoạt động thuộc chức năng xã hội của nhà nước (chức năng cung ứng dịch vụ công). Trải qua sự thăng trầm của lịch sử, hoạt động công chứng đã khẳng định sự tồn tại vững chắc và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, được nhà nước thừa nhận và trở thành hoạt 9 z động hỗ trợ đắc lực cho công dân và nhà nước trên cả hai phương diện: hỗ trợ hành pháp (quản lý nhà nước) và bổ trợ tư pháp [50, tr.
Đặc điểm pháp lý của hoạt động công chứng Từ khái niệm về công chứng và hoạt động công chứng, có thể rút ra những đặc điểm pháp lý của hoạt động công chứng như sau: Hoạt động công chứng là hoạt động mang tính chuyên môn nghề nghiệp của CCV Nội dung cơ bản của hoạt động công chứng là lập các hợp đồng, giấy tờ theo yêu cầu của đương sự và chứng nhận các hợp đồng, giấy tờ theo quy định của pháp luật bởi vậy, hoạt động công chứng là hoạt động mang tính chuyên môn nghề nghiệp của CCV. Chỉ có CCV, người được đào tạo về chuyên môn và được cơ quan nhà nước trao quyền mới được thực hiện hoạt động này. Đây chính là đặc điểm cơ bản nhất của hoạt động công chứng, là căn cứ quan trọng nhất để phân biệt hoạt động công chứng với các hoạt động mang tính chất hành chính của các cơ quan công quyền. Hành vi lập hợp đồng, giấy tờ theo yêu cầu của đương sự và chứng nhận các hợp đồng giấy tờ đó theo quy định của pháp luật là hành vi tạo nên các văn bản công chứng.