Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về hoạt động cho vay của nhân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở việt nam

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu vnu ls pháp luật về hoạt động cho vay của nhân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2011

95
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.1. Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.3. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.4. Vai trò của cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.5. Các yếu tố tác động đến hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.6. Những đặc trưng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG VỚI DOANH NGHIỆP TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

2.1. Quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

2.2. Điều kiện cho vay

2.3. Trình tự, thủ tục vay vốn

2.4. Phương thức cho vay

2.5. Hợp đồng tín dụng và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng

2.6. Chủ thể vay vốn

2.7. Chủ thể cho vay vốn

2.8. Về bảo đảm tiền vay

2.9. Vấn đề vô hiệu của hợp đồng tín dụng

2.10. Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng

2.11. Thực tiễn cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số ngân hàng thương mại ở Việt Nam

2.11.1. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)

2.11.2. Ngân hàng cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank)

3. CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

3.1. Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện Nghị định 56/2009/NĐ-CP

3.2. Xây dựng cơ chế cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

3.3. Các giải pháp khác

3.3.1. Về phía Chính phủ

3.3.2. Đối với các tỉnh/thành phố

3.3.3. Đối với Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa

3.3.4. Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Pháp Luật Cho Vay Ngân Hàng Thương Mại Tại Việt Nam

Pháp luật về cho vay ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế. DNNVV chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số doanh nghiệp, nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn. Các quy định pháp luật hiện hành cần được nghiên cứu và hoàn thiện để tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV.

1.1. Khái Niệm Về Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa

Doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa dựa trên quy mô vốn, số lao động và doanh thu. Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP, DNNVV được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa, với các tiêu chí cụ thể về vốn và lao động.

1.2. Vai Trò Của DNNVV Trong Nền Kinh Tế

DNNVV đóng góp lớn vào việc tạo ra hàng hóa, dịch vụ và việc làm. Tuy nhiên, sự phát triển của DNNVV vẫn bị hạn chế bởi nhiều yếu tố, trong đó có việc tiếp cận tín dụng từ ngân hàng.

II. Thách Thức Trong Hoạt Động Cho Vay Ngân Hàng Đối Với DNNVV

Mặc dù có nhiều quy định hỗ trợ, DNNVV vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay ngân hàng. Các ngân hàng thường coi DNNVV là khách hàng có rủi ro cao, dẫn đến việc hạn chế cho vay. Điều này gây khó khăn cho DNNVV trong việc phát triển sản xuất kinh doanh.

2.1. Khó Khăn Trong Tiếp Cận Tín Dụng

Nhiều DNNVV không đủ điều kiện để được vay vốn do thiếu tài sản đảm bảo và thông tin tài chính minh bạch. Điều này khiến ngân hàng e ngại trong việc cho vay.

2.2. Chính Sách Tín Dụng Chưa Minh Bạch

Chính sách tín dụng hiện tại chưa rõ ràng và không được cập nhật thường xuyên, dẫn đến việc DNNVV khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin và tiếp cận nguồn vốn.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Cho Vay Đối Với DNNVV

Để cải thiện tình hình cho vay ngân hàng đối với DNNVV, cần có những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật. Các ngân hàng cần có chính sách rõ ràng và minh bạch hơn trong việc cho vay.

3.1. Sửa Đổi Nghị Định 56 2009 NĐ CP

Cần xem xét sửa đổi Nghị định 56/2009/NĐ-CP để phù hợp hơn với thực tiễn và tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV trong việc tiếp cận vốn.

3.2. Xây Dựng Cơ Chế Cho Vay Đặc Thù

Cần xây dựng cơ chế cho vay riêng biệt cho DNNVV, giúp họ dễ dàng tiếp cận nguồn vốn và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Pháp Luật Cho Vay Ngân Hàng

Việc áp dụng pháp luật cho vay ngân hàng thương mại đối với DNNVV cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả. Các ngân hàng cần có những chương trình hỗ trợ cụ thể cho DNNVV.

4.1. Thực Tiễn Cho Vay Tại Một Số Ngân Hàng

Một số ngân hàng thương mại đã triển khai các chương trình cho vay ưu đãi cho DNNVV, nhưng vẫn cần cải thiện để đáp ứng nhu cầu thực tế.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Cho Vay Ngân Hàng

Nghiên cứu cho thấy rằng việc cải thiện quy định pháp luật và chính sách tín dụng sẽ giúp DNNVV tiếp cận vốn dễ dàng hơn, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

V. Kết Luận Về Pháp Luật Cho Vay Ngân Hàng Đối Với DNNVV

Pháp luật về cho vay ngân hàng thương mại đối với DNNVV cần được hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và ngân hàng để tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV.

5.1. Tương Lai Của DNNVV Tại Việt Nam

DNNVV có tiềm năng phát triển lớn, nhưng cần có sự hỗ trợ từ chính sách và pháp luật để phát huy tối đa khả năng của họ trong nền kinh tế.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ

Cần đề xuất các chính sách hỗ trợ cụ thể cho DNNVV, bao gồm cả việc cải thiện quy định pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về hoạt động cho vay của nhân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm Nói đến DNNVV là nói đến loại hình doanh nghiệp được phân loại dựa trên độ lớn (hoặc quy mô doanh nghiệp). Việc phân loại DNNVV phụ thuộc vào loại tiêu thức đánh giá quy mô doanh nghiệp và lượng hóa các tiêu thức ấy thông qua những tiêu chuẩn cụ thể.

Các tiêu thức này không thống nhất và đồng đều ở tất cả các quốc gia, thậm chí tại một quốc gia nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội khác nhau. Thực tế trên thế giới hiện nay không có khái niệm chuẩn mực về DNNVV: Theo Liên minh Châu Âu, doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số lượng công nhân không vượt quá 250. Tại Úc, doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số lượng công nhân tối đa không vượt quá 300, còn tại Mỹ là không quá 1000. Trong một khu vực, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng không giống nhau.

Tại Nam Phi, doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có từ 1 - 500 công nhân. Tại Chi Lê và Colombia con số đó là từ 11 đến 200. Trong khi đó tại Mê-hi-cô thì một doanh nghiệp có 500 công nhân vẫn được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa [43]. Hiện nay, một số nước đã nhận thức được sự cần thiết và đã thực hiện hài hòa hóa khái niệm DNNVV.

Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước về các tiêu thức và tiêu chuẩn cụ thể, song khái niệm chung nhất về DNNVV có nội dung như sau: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức: vốn, lao động, doanh thu, năng lực sản xuất, tổng tài sản, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia. Qua nghiên cứu tiêu thực phân loại ở một số nước cho thấy, một số tiêu thức chung, có tính phổ biến thường được sử dụng trên thế giới để phân loại doanh nghiệp là: Số lượng lao động thường xuyên; Vốn sản xuất kinh doanh; Doanh thu; Lợi nhuận; Giá trị gia tăng. Tiêu thức về số lao động và vốn phản ánh quy mô sử dụng các yếu tố đầu vào, còn tiêu thức về doanh thu, lợi nhuận và giá trị gia tăng lại đánh giá quy mô theo kết quả đầu ra. Mỗi tiêu thức có những mặt tích cực và hạn chế riêng.

Người ta có thể dùng các yếu tố đầu vào, hoặc các yếu tố đầu ra hoặc là kết hợp cả hai yếu tố đó. Việc sử dụng các tiêu thức để phân loại DNNVV ở các nước trên thế giới có các đặc điểm chủ yếu sau: - Các nước dùng các tiêu thức khác nhau. Trong số các tiêu thức nêu trên, hai tiêu thức được sử dụng nhiều nhất ở phần lớn các nước là quy mô vốn và lao động. Tiêu thức đầu ra được ít nước sử dụng hơn.

- Số lượng tiêu thức sử dụng để phân loại cũng không giống nhau. Có nước sử dụng một tiêu thức, nhưng cũng có nước sử dụng đồng thời hai hay nhiều tiêu thức để phân loại DNNVV. - Lượng hóa các tiêu thức này thành các tiêu chuẩn giới hạn cụ thể ở các nước khác nhau cũng không giống nhau. Độ lớn của các tiêu chuẩn giới hạn phụ thuộc vào trình độ, hoàn cảnh, điều kiện phát triển kinh tế, định hướng chính sách và khả năng trợ giúp cho các DNNVV của mỗi nước.

Điều này làm cho số lượng các DNNVV có thể rất nhiều, hoặc ít tùy theo giới hạn độ lớn khối lượng vốn và lao động sử dụng ở mỗi nước. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Khái niệm DNNVV mang tính tương đối, nó thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định và phụ thuộc vào: (i) Trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng nước. Thông thường các nước có trình độ phát triển cao thì giới hạn quy định chỉ tiêu quy mô lớn hơn so với các nước có trình độ phát triển thấp. (ii) Các giới hạn tiêu chuẩn này được quy định trong những thời kỳ cụ thể và có sự thay đổi theo thời gian cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng giai đoạn.

Chẳng hạn ở Đài Loan trong 30 năm qua đã có 6 lần thay đổi quy định giới hạn các tiêu thức phân loại DNNVV. Sự thay đổi các quy định này thể hiện khả năng thích ứng nhanh của cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước đối với khu vực DNNVV dưới tác động của sự phát triển kinh tế xã hội và môi trường bên ngoài. (iii) Các giới hạn quy mô DNNVV được quy định khác nhau cho các ngành nghề khác nhau. Đa phần các nước có sự phân biệt quy mô các tiêu thức vốn, lao động sử dụng theo từng ngành như công nghiệp, thương mại dịch vụ.

Một số ít nước dùng chung tiêu thức cho tất cả các ngành. Việc xác định giới hạn các tiêu thức này có ý nghĩa rất quan trọng. Đó là cơ sở để xác định cơ chế quản lý với những chính sách ưu tiên thích hợp và xây dựng cơ cấu tổ chức, quản lý có hiệu quả đối với hệ thống các doanh nghiệp này. Nói chung, các nỗ lực chuẩn hóa khái niệm này đã giúp cho các nước phát triển DNNVV, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp này tiếp cận vốn vay ngân hàng.

Tại Việt Nam, theo quy định tại Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp DNNVV (sau đây viết tắt là Nghị định 56/2009/NĐ-CP) thì DNNVV được chia thành các cấp độ bao gồm: siêu nhỏ, nhỏ và vừa, cụ thể như sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau [11, Điề u 3]: Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng Tổng Số lao động Số lao động Số lao động Khu vực nguồn vốn nguồn vốn I. Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và người đến đồng đến 100 người đến trở xuống trở xuống thủy sản 200 người tỷ đồng 300 người II. Công Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và người đến đồng đến 100 người đến trở xuống trở xuống xây dựng 200 người tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 III. Thương 10 người 10 tỷ đồng người đến 50 đồng đến 50 người đến mại và dịch vụ trở xuống trở xuống người tỷ đồng 100 người Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV.

So với Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển DNNVV (sau đây viết tắt là Nghị định 90/2001/NĐ-CP) trước đây thì tiêu chí xác định DNNVV đã có sự thay đổi. Nghị định 90/2001/NĐ-CP phân loại doanh nghiệp dựa trên vốn đăng ký và số lao động bình quân năm không quá 300 người, nhưng số vốn đăng ký ban đầu không phải bất biến mà thay đổi theo thời gian qua quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, tiêu chí dựa vào tổng nguồn vốn và số lao động bình quân theo quy định mới là phù hợp với tiêu chí của các nước trên thế giới. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa Với cách xác định DNNVV như trên, gắn với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam thì DNNVV có những đặc điểm tiêu biểu như sau: - Quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ Các DNNVV được thành lập dưới hầu hết các loại hình doanh nghiệp: công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH(, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã. Tuy nhiên, với đặc điểm là được hình thành từ ý tưởng của một nhóm người có quan hệ gia đình hoặc bạn bè, đồng thời, với ngành nghề sản xuất đa dạng, nhất là ngành nghề thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nhẹ, hầu hết các DNNVV thành lập và hoạt động với số vốn hạn chế, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, quy mô sản xuất nhỏ lẻ. Tuy vậy, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hiện nay các doanh nghiệp đã biết liên kết với nhau để sản xuất kinh doanh theo hướng mỗi doanh nghiệp sản xuất chuyên môn hóa một loại sản phẩm, đặc biệt là sự liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài đã mở ra cơ hội mới cho các DNNVV, hạn chế những khó khăn về quy mô và vốn đầu tư sản xuất của các DNNVV trong nước. - Mặt bằng sản xuất khó khăn: Mặc dù đã có các chủ trương, chính sách khuyến khích, ưu tiên cho các DNNVV, đồng thời phía chính quyền địa phương đã có nhiều nỗ lực, xong vẫn có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) trong các lĩnh vực như đất đai, mặt bằng sản xuất, vay vốn tín dụng dẫn đến tình trạng DNVVN thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, đổi mới công nghệ.Mặt bằng sản xuất khó khăn là vấn đề khó khăn khách quan và rất phổ biến của các DNNVV.

Rất nhiều doanh nghiê ̣p cần mặt bằng sản xuất nhưng lại không có "một miếng đất cắm dùi". Hiện, doanh nghiệp muốn có mặt bằng sản xuất thường có ba phương án lựa chọn: thuê của Nhà nước; thuê của các tổ chức, cá nhân khác; dùng ngay chính đất đang 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ở để tổ chức sản xuất. Nhưng chính sách đất đai đang làm khó cho các DNVVN. Đồng thời, các DNVVN mới thoát khỏi khủng hoảng nên còn rất yếu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Pháp Luật Về Cho Vay Ngân Hàng Thương Mại Đối Với Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn tổng quan về các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong quá trình vay vốn, mà còn chỉ ra những lợi ích mà việc tuân thủ pháp luật mang lại, như tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn và giảm thiểu rủi ro pháp lý.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Agribank chi nhánh 7", nơi cung cấp thông tin chi tiết về các chiến lược cho vay tại một trong những ngân hàng lớn nhất Việt Nam. Bên cạnh đó, tài liệu "Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Vietcombank Ninh Thuận" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp cải thiện hiệu quả cho vay. Cuối cùng, tài liệu "Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố Hồ Chí Minh" sẽ cung cấp những giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều cơ hội để bạn tìm hiểu sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của hoạt động cho vay ngân hàng đối với DNNVV.