Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm Nói đến DNNVV là nói đến loại hình doanh nghiệp được phân loại dựa trên độ lớn (hoặc quy mô doanh nghiệp). Việc phân loại DNNVV phụ thuộc vào loại tiêu thức đánh giá quy mô doanh nghiệp và lượng hóa các tiêu thức ấy thông qua những tiêu chuẩn cụ thể.
Các tiêu thức này không thống nhất và đồng đều ở tất cả các quốc gia, thậm chí tại một quốc gia nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội khác nhau. Thực tế trên thế giới hiện nay không có khái niệm chuẩn mực về DNNVV: Theo Liên minh Châu Âu, doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số lượng công nhân không vượt quá 250. Tại Úc, doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số lượng công nhân tối đa không vượt quá 300, còn tại Mỹ là không quá 1000. Trong một khu vực, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng không giống nhau.
Tại Nam Phi, doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có từ 1 - 500 công nhân. Tại Chi Lê và Colombia con số đó là từ 11 đến 200. Trong khi đó tại Mê-hi-cô thì một doanh nghiệp có 500 công nhân vẫn được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa [43]. Hiện nay, một số nước đã nhận thức được sự cần thiết và đã thực hiện hài hòa hóa khái niệm DNNVV.
Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước về các tiêu thức và tiêu chuẩn cụ thể, song khái niệm chung nhất về DNNVV có nội dung như sau: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức: vốn, lao động, doanh thu, năng lực sản xuất, tổng tài sản, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia. Qua nghiên cứu tiêu thực phân loại ở một số nước cho thấy, một số tiêu thức chung, có tính phổ biến thường được sử dụng trên thế giới để phân loại doanh nghiệp là: Số lượng lao động thường xuyên; Vốn sản xuất kinh doanh; Doanh thu; Lợi nhuận; Giá trị gia tăng. Tiêu thức về số lao động và vốn phản ánh quy mô sử dụng các yếu tố đầu vào, còn tiêu thức về doanh thu, lợi nhuận và giá trị gia tăng lại đánh giá quy mô theo kết quả đầu ra. Mỗi tiêu thức có những mặt tích cực và hạn chế riêng.
Người ta có thể dùng các yếu tố đầu vào, hoặc các yếu tố đầu ra hoặc là kết hợp cả hai yếu tố đó. Việc sử dụng các tiêu thức để phân loại DNNVV ở các nước trên thế giới có các đặc điểm chủ yếu sau: - Các nước dùng các tiêu thức khác nhau. Trong số các tiêu thức nêu trên, hai tiêu thức được sử dụng nhiều nhất ở phần lớn các nước là quy mô vốn và lao động. Tiêu thức đầu ra được ít nước sử dụng hơn.
- Số lượng tiêu thức sử dụng để phân loại cũng không giống nhau. Có nước sử dụng một tiêu thức, nhưng cũng có nước sử dụng đồng thời hai hay nhiều tiêu thức để phân loại DNNVV. - Lượng hóa các tiêu thức này thành các tiêu chuẩn giới hạn cụ thể ở các nước khác nhau cũng không giống nhau. Độ lớn của các tiêu chuẩn giới hạn phụ thuộc vào trình độ, hoàn cảnh, điều kiện phát triển kinh tế, định hướng chính sách và khả năng trợ giúp cho các DNNVV của mỗi nước.
Điều này làm cho số lượng các DNNVV có thể rất nhiều, hoặc ít tùy theo giới hạn độ lớn khối lượng vốn và lao động sử dụng ở mỗi nước. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Khái niệm DNNVV mang tính tương đối, nó thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định và phụ thuộc vào: (i) Trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng nước. Thông thường các nước có trình độ phát triển cao thì giới hạn quy định chỉ tiêu quy mô lớn hơn so với các nước có trình độ phát triển thấp. (ii) Các giới hạn tiêu chuẩn này được quy định trong những thời kỳ cụ thể và có sự thay đổi theo thời gian cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng giai đoạn.
Chẳng hạn ở Đài Loan trong 30 năm qua đã có 6 lần thay đổi quy định giới hạn các tiêu thức phân loại DNNVV. Sự thay đổi các quy định này thể hiện khả năng thích ứng nhanh của cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước đối với khu vực DNNVV dưới tác động của sự phát triển kinh tế xã hội và môi trường bên ngoài. (iii) Các giới hạn quy mô DNNVV được quy định khác nhau cho các ngành nghề khác nhau. Đa phần các nước có sự phân biệt quy mô các tiêu thức vốn, lao động sử dụng theo từng ngành như công nghiệp, thương mại dịch vụ.
Một số ít nước dùng chung tiêu thức cho tất cả các ngành. Việc xác định giới hạn các tiêu thức này có ý nghĩa rất quan trọng. Đó là cơ sở để xác định cơ chế quản lý với những chính sách ưu tiên thích hợp và xây dựng cơ cấu tổ chức, quản lý có hiệu quả đối với hệ thống các doanh nghiệp này. Nói chung, các nỗ lực chuẩn hóa khái niệm này đã giúp cho các nước phát triển DNNVV, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp này tiếp cận vốn vay ngân hàng.
Tại Việt Nam, theo quy định tại Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp DNNVV (sau đây viết tắt là Nghị định 56/2009/NĐ-CP) thì DNNVV được chia thành các cấp độ bao gồm: siêu nhỏ, nhỏ và vừa, cụ thể như sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau [11, Điề u 3]: Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng Tổng Số lao động Số lao động Số lao động Khu vực nguồn vốn nguồn vốn I. Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và người đến đồng đến 100 người đến trở xuống trở xuống thủy sản 200 người tỷ đồng 300 người II. Công Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và người đến đồng đến 100 người đến trở xuống trở xuống xây dựng 200 người tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 III. Thương 10 người 10 tỷ đồng người đến 50 đồng đến 50 người đến mại và dịch vụ trở xuống trở xuống người tỷ đồng 100 người Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV.
So với Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển DNNVV (sau đây viết tắt là Nghị định 90/2001/NĐ-CP) trước đây thì tiêu chí xác định DNNVV đã có sự thay đổi. Nghị định 90/2001/NĐ-CP phân loại doanh nghiệp dựa trên vốn đăng ký và số lao động bình quân năm không quá 300 người, nhưng số vốn đăng ký ban đầu không phải bất biến mà thay đổi theo thời gian qua quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, tiêu chí dựa vào tổng nguồn vốn và số lao động bình quân theo quy định mới là phù hợp với tiêu chí của các nước trên thế giới. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa Với cách xác định DNNVV như trên, gắn với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam thì DNNVV có những đặc điểm tiêu biểu như sau: - Quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ Các DNNVV được thành lập dưới hầu hết các loại hình doanh nghiệp: công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH(, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã. Tuy nhiên, với đặc điểm là được hình thành từ ý tưởng của một nhóm người có quan hệ gia đình hoặc bạn bè, đồng thời, với ngành nghề sản xuất đa dạng, nhất là ngành nghề thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nhẹ, hầu hết các DNNVV thành lập và hoạt động với số vốn hạn chế, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, quy mô sản xuất nhỏ lẻ. Tuy vậy, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hiện nay các doanh nghiệp đã biết liên kết với nhau để sản xuất kinh doanh theo hướng mỗi doanh nghiệp sản xuất chuyên môn hóa một loại sản phẩm, đặc biệt là sự liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài đã mở ra cơ hội mới cho các DNNVV, hạn chế những khó khăn về quy mô và vốn đầu tư sản xuất của các DNNVV trong nước. - Mặt bằng sản xuất khó khăn: Mặc dù đã có các chủ trương, chính sách khuyến khích, ưu tiên cho các DNNVV, đồng thời phía chính quyền địa phương đã có nhiều nỗ lực, xong vẫn có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) trong các lĩnh vực như đất đai, mặt bằng sản xuất, vay vốn tín dụng dẫn đến tình trạng DNVVN thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, đổi mới công nghệ.Mặt bằng sản xuất khó khăn là vấn đề khó khăn khách quan và rất phổ biến của các DNNVV.
Rất nhiều doanh nghiê ̣p cần mặt bằng sản xuất nhưng lại không có "một miếng đất cắm dùi". Hiện, doanh nghiệp muốn có mặt bằng sản xuất thường có ba phương án lựa chọn: thuê của Nhà nước; thuê của các tổ chức, cá nhân khác; dùng ngay chính đất đang 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ở để tổ chức sản xuất. Nhưng chính sách đất đai đang làm khó cho các DNVVN. Đồng thời, các DNVVN mới thoát khỏi khủng hoảng nên còn rất yếu.