CHƯƠNG 1 4 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VẺ CHĂM SÓC SỨC KHỎE 45 CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIẾN THỊ HÀNH Ở VIỆT NAM 2. Thực trạng quy dink pháp luật về chăm sóc sức khôe cho người khuyết đật — 45 2. Thực tạng a, dinhnh pháp luật AS 2. Thương bình và các chính " thương bình.
Thực trạng thực thí pháp luật về chăm sắc sức khỏe cho người khuyết tật 53 2. Chăm sóc sức khỏe ban đâu 3ã 2. Kham bệnh, chữa bệnh 58 2. Chính hình, phục hãi chức năng 61 tạ nghề phủ hợp (Điều 59), “Người giả, người tản tật, trế mỏ cồi không nơi nương, tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ” (Diển 67).
Hiển pháp 2013 quy định “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công đân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển kệ thông an sinh xã hội, cỏ chỉnh sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” (Diệu 59), “Nhà nước ưu tiền phát triển giáo đục ở miễn núi, hải đão, vùng đồng bảo đân tộc thiểu số và ving có diễu kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tải: tạo điêu kiện đề người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghệ” (PHểu 61), Thể chế hóa các quan diém của Đảng, quy dịnh của Hiển pháp, nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành đặc biệt 1A Luat Người khuyết tật được Quốc hội thông qua năm 2010 và có hiệu lực tù ngày Ô1 tháng 01 nắm 2011, bao gồm 10 chương, 53 điểu trong đó có chương LI với nội dung “Chăm sóc sức khốe” đã tao hành lang pháp lý đôi với văn đẻ chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật bào đầm quyền lợi của người khuyết tật về chăm sóc sức khóc, "Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật Người khuyết tật nói chưng va 'pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật nói riêng nảy sinh nhiều bắt cập. Hệ thủng văn bản pháp luật thiếu thống nhất. Có nhiều nội dung van ban pháp luật quy định nhưng không thực hiện được. Ví dụ, vấn để quy ảmh ưu đãi đối với các doanh nghiệp sử đựng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật được hướng wu đối (Điều 3 thông tr 26/2012 TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2012 của Bộ Lao động — Thuong bình và Xã hệi), thục chất nhiêu năm qua không có đoaánh nghiệp nào đạt được con số này.
Hay việc liếp ân kỹ thuật tin học, phương tiện, công trình giao thông, công trình kiến trúc cô lẽ còn lâu mới đạt được lộ trình mã Luật Người khuyết tật năm 2010 đề ra tại Điều 40. Đề Tệt Nam trở thành thành viên chính thức của Công ude về quyền cửa người khuyết tật, Quốc hội khoả XIH dã phé chuẩn Công ước tại ky hop thir 8 (tháng 10/2014). Từ góc độ pháp lý, có thể nhận thấy được một số công việc quan trọng đã và dang đặi ra với những thuận lợi, khó khăn, thách thức nhất định, từ đỏ cũng sợi mở việc tìm kiếm hưởng giải quyết phủ hợp. Đặc biệt là công tác Xử ÿÿ vi phạm trong chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật 64 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 CHUONG 3: Mor SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN 69 N T VẢ NÂNG CAO HIỆU QUÁ THỰC THIỆN PHÁP LUAT VE CHAM SOC SUC KHOE CHO NGUOI KHUYET TAT Ở VIỆT NAM 31.
Định hưởng hoàn thiện pháp luật về chăm sóc sức khóe cho người khuyết 69 tật # Kiệt Na 3. Thế chế bảa các chủ trương chính sách của thẳng và Nhà nước về chăm sóc sức khôe cho người khuyết lột 3. Bảo đâm pháp luật và chăm sóc sức khée cho người kingli tật pin hợp với công ước quốc lễ về người khuyết tật mà Liệt Naơm tham gia ký Pay manh và nẵng cao việc chăm sóc sức khôe cho người khuyết lãi bằng biện pháp ngoài y lễ 32 Giải pháp nông cua hiệu quả thực hiện pháp luật về chăm xóc xức khôe chủ 7 người khuyất lật tại Việt Nam 3. Hoàn thiện pháp luật về chăm sóc sức khôe cho người khuyết tật 3.
Nâng cao nhận thức về kiuuylt tật và người khuyét tat 3. Xã hội hóa hoạt động châm sóc sức khỏe cho người khuyết tột 3. Tạo điều kiện nhân lực, vật lực cho hoạt động chăm sóc sức khôe cho người Khuyét tat 33. Một xã kiến nghị cụ thế nhằm huần tiện và nâng cao liệu qua dược hiện pháp luật về chăm sóc sức khóc cho người khuylt tật KET LUAN CHUONG 3 TAIL]TEU THAM KHAO Nam dã thu dược nhiều kết quả khá quan, cuộc sông của nhiều người khuyết tật đã được cải thiện.
Tất cả những yếu tổ đó tạo thành điều kiện thuận lợi căn bản cho việc phê chuẩn và triển khai thực Thì nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công, ước. Nhưng bèn cạnh những thuận lợi co bản nêu trên, chúng ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn. Trước hét, đó là nhận thức chung của người khuyết lật, của xã hội về quyền con người nói chung, về vấn để khuyết tậi và quyền của người khuyết tật (quan điểm tư duy dựa trên quyền cơn người) vẫn còn là vẫn dễ kha mdi mé, phần đông người Việt Nam chưa quen với quan điểm tiếp cận này, thậm chí cã chính người khuyết tật cũng chưa thật sự hiểu biế ấn bắt và lự ý thức dược các quyền của mình. Tiếp dén, kiểu tư đuy bao cấi con dai ding, hiểu người vẫn quan niệm mọi gánh nắng, các nguồn lực đỗ đến hết lên vai ngân sách Nhà nước mà chưa thấy dược Liểm năng to lớn ở ngay chính xã hội.
Cũng từ đó, nha thiết kế chính sách pháp luật dễ từ chối việc bão đám quyền cho người khuyết tật theo tỉnh thân Công ước. Trong khi thực sự thi quyền là giá trị chung, không phụ thuộc vào việc công nhận hay khỏng công nhận nhưng việc thục thi bảo đám quyên bằng pháp luật quốc gia lại có ý nghĩa thục tế vô củng, quan trọng. nêu không thì quyên của người khuyết tật không thê được hiện thực hoa. Nước ta là một thành viên tham gia vào công ước Liên ITẹp Quốc về quyên của người khuyết tật, việc hoàn thiện thể chế pháp luật về ngtrời khuyết tật nói chưng, pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật nói riêng là vấn dé het sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
ITơn nữa việc thực hiện tốt pháp huật chăm sóc sức khỏe người khuyết lật còn góp phần lo lớn vào chính sách an sinh xã hội của đất nước. Nhằm giải quyết các vấn để chăm sóc sức khỏe người khuyết tật một cách có hệ thống, hiệu quả, tôi chọn để tài “Pháp luật về chăm sóc sức khỏe cha người khuyết tật ở Việt Nam” với mong muôn góp phần vào việc nâng cao ý nghĩa cuộc sống xã hội nói chưng và người khuyết tật nói riêng. Nam dã thu dược nhiều kết quả khá quan, cuộc sông của nhiều người khuyết tật đã được cải thiện. Tất cả những yếu tổ đó tạo thành điều kiện thuận lợi căn bản cho việc phê chuẩn và triển khai thực Thì nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công, ước.
Nhưng bèn cạnh những thuận lợi co bản nêu trên, chúng ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn. Trước hét, đó là nhận thức chung của người khuyết lật, của xã hội về quyền con người nói chung, về vấn để khuyết tậi và quyền của người khuyết tật (quan điểm tư duy dựa trên quyền cơn người) vẫn còn là vẫn dễ kha mdi mé, phần đông người Việt Nam chưa quen với quan điểm tiếp cận này, thậm chí cã chính người khuyết tật cũng chưa thật sự hiểu biế ấn bắt và lự ý thức dược các quyền của mình. Tiếp dén, kiểu tư đuy bao cấi con dai ding, hiểu người vẫn quan niệm mọi gánh nắng, các nguồn lực đỗ đến hết lên vai ngân sách Nhà nước mà chưa thấy dược Liểm năng to lớn ở ngay chính xã hội. Cũng từ đó, nha thiết kế chính sách pháp luật dễ từ chối việc bão đám quyền cho người khuyết tật theo tỉnh thân Công ước.
Trong khi thực sự thi quyền là giá trị chung, không phụ thuộc vào việc công nhận hay khỏng công nhận nhưng việc thục thi bảo đám quyên bằng pháp luật quốc gia lại có ý nghĩa thục tế vô củng, quan trọng. nêu không thì quyên của người khuyết tật không thê được hiện thực hoa. Nước ta là một thành viên tham gia vào công ước Liên ITẹp Quốc về quyên của người khuyết tật, việc hoàn thiện thể chế pháp luật về ngtrời khuyết tật nói chưng, pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật nói riêng là vấn dé het sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay. ITơn nữa việc thực hiện tốt pháp huật chăm sóc sức khỏe người khuyết lật còn góp phần lo lớn vào chính sách an sinh xã hội của đất nước.
Nhằm giải quyết các vấn để chăm sóc sức khỏe người khuyết tật một cách có hệ thống, hiệu quả, tôi chọn để tài “Pháp luật về chăm sóc sức khỏe cha người khuyết tật ở Việt Nam” với mong muôn góp phần vào việc nâng cao ý nghĩa cuộc sống xã hội nói chưng và người khuyết tật nói riêng. nghề phủ hợp (Điều 59), “Người giả, người tản tật, trế mỏ cồi không nơi nương, tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ” (Diển 67). Hiển pháp 2013 quy định “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công đân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển kệ thông an sinh xã hội, cỏ chỉnh sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” (Diệu 59), “Nhà nước ưu tiền phát triển giáo đục ở miễn núi, hải đão, vùng đồng bảo đân tộc thiểu số và ving có diễu kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tải: tạo điêu kiện đề người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghệ” (PHểu 61), Thể chế hóa các quan diém của Đảng, quy dịnh của Hiển pháp, nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành đặc biệt 1A Luat Người khuyết tật được Quốc hội thông qua năm 2010 và có hiệu lực tù ngày Ô1 tháng 01 nắm 2011, bao gồm 10 chương, 53 điểu trong đó có chương LI với nội dung “Chăm sóc sức khốe” đã tao hành lang pháp lý đôi với văn đẻ chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật bào đầm quyền lợi của người khuyết tật về chăm sóc sức khóc, "Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật Người khuyết tật nói chưng va 'pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật nói riêng nảy sinh nhiều bắt cập. Hệ thủng văn bản pháp luật thiếu thống nhất.