CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ RỪNG VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG 1. Tổng quan về bảo v rừng 1. Khái ni rừng Mọi giai đoạn lịch sử loài người luôn gắn bó với điều kiện thiên nhiên và trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau có những thay đổi về nhận thức thiên nhiên, trong đó có nhận thức về rừng. Tùy mục tiêu nghiên cứu, giới hạn nhận thức, góc độ và phương pháp xem xét mà người ta có những quan niệm về rừng khác nhau và trong từng giai đoạn khác nhau.
Cùng với sự ra đời của sinh thái học, các khái niệm về rừng và khoa học rừng dần dần được sáng tỏ. Rừng đã có lịch sử phát triển lâu dài nhưng những hiểu biết về rừng chỉ mới được nhận thức thật sự từ thế kỷ XIX. Theo quan điểm học thuyết về hệ sinh thái, rừng được xem như là hệ sinh thái điển hình trong sinh quyển. Mặt khác học thuyết về rừng thì rừng được coi là một sinh địa quần lạc.
Hai học thuyết trên không khác nhau về bản chất, nhưng mỗi học thuyết nhấn mạnh về một khía cạnh đặc trưng riêng của rừng. Cả hai học thuyết đều sử dụng các nguyên lý cơ bản của sinh thái học khi nghiên cứu một đơn vị tự nhiên trong sinh quyển. Chúng đều được thừa nhận và sử dụng trong khoa học nghiên cứu về rừng. Vili (1957) đã dịch ra khái niệm hệ sinh thái là một đơn vị tự nhiên bao gồm các yếu tố sống và không sống, giữa chúng có sự trao đổi vật chất và năng lượng tạo nên một hệ thống ổn định.
Còn quần lạc sinh địa rừng được hiểu là một khoảng rừng nhất định có sự đồng nhất về các yếu tố cấu thành cấu trúc và đặc tính của các thành phần hợp thành. Nghĩa là đồng nhất về thảm thực vật, thế giới động vật, thế giới vi sinh vật, các điều kiện về khí hậu, đất đai. Trong đó có sự đồng nhất về các quá trình tác động qua lại lẫn nhau, có cùng một kiểu trao đổi vật chất và năng lượng giữa các hợp phần trong quần lạc và với môi trường. Thuật ngữ “rừng” thường chỉ cho chúng ta có sự hình dung miêu tả hoặc đưa ra tính khái quát đều thấy đến nhiều loài động vật, thực vật, vi sinh vật sinh sống 7 trong một môi trường thiên nhiên, giữa chúng thường có những loài động vật, thực vật, vi sinh vật cùng tồn tại và có loài chiếm ưu thế hơn, chúng luôn ảnh hưởng lẫn nhau và tác động đến môi trường.
Loài thực vật là thành tố cơ bản của rừng, chúng vốn có tính năng điều hòa môi trường sinh thái. Năm 1912, nhà khoa học người Nga là G.Morodop đã xây dựng và công bố học thuyết về rừng. Trong học thuyết này, ông đã chỉ ra khái niệm về rừng, là “một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển, nó chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý”1. Năm 1974, Hội nghị các nhà khoa học Liên Xô đã thống nhất đưa ra định nghĩa về rừng, đó là “một bộ phận cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật, trong quá trình phát triển, chúng có mối quan hệ sinh học, ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài”2.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư nước ta chỉ ra, rừng là “quần xã sinh vật, trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu, quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn, giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo sự khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác”3. Khái niệm về rừng được đưa ra ngắn gọn hơn. Rừng là chỗ cây cối mọc mênh mông sầm uất4. Rừng là nơi có nhiều cây cối mọc chi chít, nơi động vật sống tự nhiên hoang dã5.
Từ năm 2004 đến nay, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã được Quốc hội thông qua vào ngày 03 tháng 12 năm 2004 (sau đây gọi là Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004), theo đó khái niệm rừng được hiểu thống nhất như sau: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, 1 Học thuyết về rừng của G. Morodop năm 1912 2 Định nghĩa về rừng của Hội nghị các nhà khoa học Liên Xô năm 1974 3 https://vi.org/wiki/R%E1%BB%ABng, Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2017 4 Minh Tâm, Thanh Nghi, Xuân Lãm (1998), Từ điển Tiếng Việt, NXB Thanh Hóa, tr. 5 Văn Tân (1991), Từ điển Tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, tr. 8 đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.
Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Độ che phủ của tán rừng là mức độ che kín của tán cây rừng đối với đất rừng, được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười giữa diện tích đất rừng bị tán cây rừng che bóng và diện tích đất rừng6. Kế thừa những khái niệm trên và dựa vào quan điểm quản lý rừng bền vững, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đưa ra khái niệm về rừng như sau: Rừng là nơi cung cấp gỗ và các lâm sản khác, là một nhân tố phát triển ở dạng giá trị tiềm năng tổng hợp và có nhiều chức năng7. Với cách tiếp cận trên, dễ thấy rừng có nhiều loại cây gỗ, nhiều lâm sản khác như động vật, vi sinh vật rừng thích ứng với loài cây gỗ chiếm ưu thế trong môi trường cây gỗ tồn tại, phát triển; rừng là một nhân tố phát triển ở dạng giá trị tiềm năng tổng hợp thể hiện ở chỗ, rừng là sản phẩm, là tư liệu sản xuất và cũng là sự thống nhất giữa sản phẩm và tư liệu sản xuất, giá trị tiềm năng tổng hợp có cả kinh tế-xã hội, có giá trị sử dụng tổng hợp, giá trị sử dụng của nó gồm giá trị sử dụng của các lâm sản, dịch vụ và khả năng tái sản xuất ra những sản phẩm này; và rừng có nhiều chức năng thể hiện ở chỗ, chức năng kinh tế, chức năng phòng hộ môi trường, chức năng du lịch, chức năng môi sinh và chức năng bảo vệ đa dạng sinh học.
Tiếp cận trên, cho thấy trên địa bàn tỉnh Cà Mau có hai loại rừng chiếm ưu thế chủ yếu và tương ứng với hệ sinh thái nước ngọt là rừng tràm, hệ sinh thái nước mặn là rừng đước. Hai loại rừng này là một bộ phận, một dạng của rừng nói chung, nó là nơi sản xuất gỗ tràm, gỗ đước và các lâm sản tồn tại, phù hợp, thích ứng cùng phát triển, tồn tại với gỗ tràm, gỗ đước là một nhân tố phát triển ở dạng giá trị tiềm năng tổng hợp và có nhiều chức năng của rừng, đồng thời nó có những giá trị và chức năng đặc thù so với các loại rừng khác.3 , Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004. 7 Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác (2006), Cẩm nang ngành lâm nghiệp, chương Quản lý rừng bền vững, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Đặc điể của rừng Từ những khái niệm về rừng đã trình bày trên cho thấy xét tổng quan, rừng có những đặc điểm chung như sau: Một là, rừng là một thể tổng hợp và phức tạp, có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với điều kiện tự nhiên trong tổng hợp đó.
Quần thể ở đây không chỉ là một nhóm thực vật mà cả động vật và nhiều loài động thực vật cùng tồn tại và tác động qua lại trong môi trường tự nhiên nhất định. Chẳng hạn trong quần thể cây tràm, không chỉ có nhiều loài cá, rắn, rùa… mà còn có nhiều loài dây leo khác, như dây choại, rau mơ, bồn bồn, sậy… Hai là, luôn có sự cân bằng động (hiểu theo nghĩa rừng có sự sinh trưởng, phát triển cân đối các yếu tố cấu thành), rừng có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật. Những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng. Tính cân bằng động có thể thấy như, trong hệ sinh thái nước ngọt rừng tràm, vào mùa hạn, nhiều loài dây leo kết thúc chu kì sinh trưởng và chúng cho ra những hạt, bông, nhánh… để sinh sản khi điều kiện thuận lợi thích nghi, như rau đắng đất, rau đắn biển,…khi mùa mưa đến chúng tiếp tục sinh sôi và phát triển.
Ba là, rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi. Rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác. Nhờ đặc điểm này mà rừng có vai trò cân bằng môi trường sinh thái. Chẵn hạn, như cây xanh hấp thụ khí Cacbon đioxit (CO2) và qua quá trình quang hợp tạo ra khí Oxy (O2)… từ đó góp phần làm trong lành môi trường.
Bốn là, sự vận động của rừng nằm trong các tác động tương hỗ phức tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái. Theo đó, rừng có phân bố địa lý. Trong hệ sinh thái nước ngập mặn có nhiều loại cây rừng như đước, mấm,…tương ứng với 10 chúng là những loại động vật, vi sinh vật thích nghi như cá kèo, cua, ba khía; trong khi đó trong hệ sinh thái nước ngọt có nhiều loại cây rừng thích nghi như, tràm, cây bình bát, sậy, ráng, dây choại… gắn với loài cây này là nhiều loài thủy sinh, như kì đà, nhím,…Rõ ràng, rừng có tính vận động trong sự chịu tác động tổng hợp của các yếu tố và đi đến sự cân bằng và phân bố địa lý. Phân loại rừng Tùy theo đặc điểm từng nhóm đối tượng mà pháp luật đưa ra những chế tài khác nhau, theo đó có những cách phân loại đối tượng theo cách tiếp cận nhất định.