Khóa luận: Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong TMĐT và thực tiễn tại TP.HCM

Khảo sát thực trạng pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử tại TP.HCM. Phân tích các quy định hiện hành và giải pháp nâng cao hiệu

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học

2021

55
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái quát về Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử

Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử Việt Nam mang lại nhiều tiện ích, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng online. Đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh – một trong những trung tâm kinh tế sôi động nhất cả nước – nơi diễn ra hàng triệu giao dịch trực tuyến mỗi ngày. Nhu cầu về một khung pháp lý vững chắc để đảm bảo an toàn giao dịch trực tuyến và giải quyết các vấn đề phát sinh là vô cùng cấp thiết. Nghiên cứu thực tiễn tại TP.HCM giúp đánh giá hiệu quả của các quy định hiện hành, đồng thời nhận diện những khoảng trống pháp lý cần bổ sung để tăng cường sự tin cậy của người tiêu dùng vào môi trường mua sắm trực tuyến. Điều này không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người mua, mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của thương mại điện tử nói chung. Việc hiểu rõ các quy định về bảo vệ NTD trong TMĐT là cơ sở để người tiêu dùng tự bảo vệ mình và cơ quan quản lý thực thi hiệu quả các quy định.

1.1. Khái niệm và sự cần thiết của bảo vệ NTD trong TMĐT

Giao dịch thương mại điện tử (TMĐT) là hình thức giao dịch được thực hiện thông qua mạng internet, mang lại sự tiện lợi nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Người tiêu dùng thường phải đối mặt với nguy cơ về chất lượng sản phẩm, dịch vụ kém, thiếu thông tin minh bạch, rò rỉ thông tin cá nhân trong TMĐT hoặc khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp TMĐT. Từ góc độ nhà nước, việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng online là để duy trì trật tự xã hội, khuyến khích sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế số và xây dựng lòng tin cho người tiêu dùng. Từ góc độ người tiêu dùng, các quy định pháp luật giúp họ có cơ sở để đòi hỏi quyền lợi khi bị xâm phạm, đồng thời tạo môi trường mua sắm trực tuyến an toàn và đáng tin cậy hơn. Sự cần thiết này thể hiện rõ qua sự gia tăng các khiếu nại liên quan đến chất lượng hàng hóa, dịch vụ và vấn đề bảo mật thông tin cá nhân. Theo Nguyễn Thị Thanh Thảo (2021), việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch TMĐT là nền tảng để khuyến khích sự tham gia của người dân vào nền kinh tế số.

1.2. Tổng quan về khung pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử

Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng nhằm điều chỉnh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng online trong lĩnh vực thương mại điện tử. Trong số đó, Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử (và các sửa đổi, bổ sung sau này) là văn bản cốt lõi, quy định chi tiết về trách nhiệm của các thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT. Ngoài ra, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 (và Luật mới sẽ có hiệu lực) cũng đóng vai trò quan trọng, đặt ra các nguyên tắc cơ bản và quyền của người tiêu dùng. Các văn bản khác như Luật An toàn thông tin mạng, Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử cũng góp phần tạo nên bức tranh toàn diện về pháp luật bảo vệ NTD trong giao dịch TMĐT. Tuy nhiên, sự phức tạp của môi trường trực tuyến đòi hỏi các quy định phải liên tục được cập nhật để bắt kịp với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và các hình thức giao dịch mới.

II. Thực trạng pháp luật bảo vệ NTD trong TMĐT và thách thức tại TP

Thành phố Hồ Chí Minh, với quy mô thị trường thương mại điện tử lớn nhất cả nước, là nơi các quy định về bảo vệ NTD trong TMĐT được áp dụng và bộc lộ rõ nhất những ưu điểm cũng như hạn chế. Dù hệ thống pháp luật đã khá đầy đủ, việc thực thi trên thực tế vẫn đối mặt với nhiều rào cản. Các vấn đề như thiếu minh bạch thông tin sản phẩm, giao hàng không đúng mô tả, khó khăn trong việc đổi trả hàng hóa hay giải quyết các khiếu nại vẫn diễn ra thường xuyên. Đặc biệt, việc bảo vệ thông tin cá nhân trong TMĐT của người tiêu dùng đang là một thách thức lớn, khi các vụ lộ lọt dữ liệu vẫn xảy ra, gây thiệt hại tài chính và mất niềm tin. Theo báo cáo của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, số lượng khiếu nại liên quan đến TMĐT luôn ở mức cao. Điều này cho thấy cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả hơn để nâng cao khả năng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng online tại TP.HCM, đảm bảo một môi trường kinh doanh số công bằng và minh bạch cho tất cả các bên tham gia.

2.1. Vấn đề minh bạch thông tin và trách nhiệm nhà cung cấp TMĐT

Theo quy định tại Nghị định 52/2013/NĐ-CP, các thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin về hàng hóa, dịch vụ, điều khoản giao dịch, chính sách đổi trả, bảo hành và quy trình giải quyết tranh chấp TMĐT. Tuy nhiên, trên thực tế tại TP.HCM, không ít trường hợp người tiêu dùng gặp phải tình trạng thông tin sản phẩm không rõ ràng, quảng cáo sai sự thật hoặc ẩn chứa các điều khoản phức tạp gây khó khăn cho người mua. Vấn đề này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi người tiêu dùng online. Theo Ths. Nguyễn Thị Lệ Thủy, người hướng dẫn khóa luận của Nguyễn Thị Thanh Thảo (2021), việc không minh bạch thông tin là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều khiếu nại và tranh chấp trong giao dịch thương mại điện tử, gây thiệt hại không nhỏ cho người mua và làm giảm niềm tin vào thị trường trực tuyến.

2.2. Thách thức về bảo mật thông tin cá nhân trong TMĐT và an toàn giao dịch trực tuyến

Việc thu thập và sử dụng thông tin cá nhân của người tiêu dùng là không thể tránh khỏi trong giao dịch thương mại điện tử. Pháp luật Việt Nam, cụ thể là Điều 68 của Nghị định 52/2013/NĐ-CP và các quy định liên quan, đã đặt ra trách nhiệm bảo vệ thông tin này cho các thương nhân, tổ chức. Tuy nhiên, thực tế tại TP.HCM cho thấy, các vụ lộ lọt thông tin cá nhân như địa chỉ, số điện thoại, thông tin ngân hàng vẫn thường xuyên xảy ra. Điều này không chỉ vi phạm quyền lợi người tiêu dùng online mà còn dẫn đến các hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản. Vấn đề an toàn giao dịch trực tuyến, đặc biệt là thanh toán điện tử, cũng là một mối lo ngại khi công nghệ phát triển kéo theo các hình thức tấn công mạng tinh vi hơn. Cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn để tăng cường bảo mật thông tin cá nhân trong TMĐT và đảm bảo môi trường giao dịch an toàn tuyệt đối. Minh Bằng (2021) đã nhấn mạnh về nỗi lo lộ, lọt thông tin cá nhân khi tham gia thương mại điện tử, ảnh hưởng đến tài sản của NTD.

III. Các giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật bảo vệ NTD trong TMĐT tại TP

Để thực sự nâng cao hiệu quả pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử tại TP.HCM, cần có một chuỗi các giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện khung pháp lý đến tăng cường năng lực thực thi và nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc xử lý các vi phạm mà còn hướng tới việc phòng ngừa, xây dựng một môi trường thương mại điện tử lành mạnh ngay từ đầu. Việc phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các sàn giao dịch TMĐT và chính bản thân người tiêu dùng là yếu tố then chốt để đảm bảo an toàn giao dịch trực tuyếnquyền lợi người tiêu dùng online. Đặc biệt, trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng, việc cập nhật và thích ứng của pháp luật là vô cùng quan trọng để có thể kiểm soát được các vấn đề mới phát sinh, từ đó củng cố lòng tin của người tiêu dùng vào mua sắm trực tuyến. Việc áp dụng các công nghệ mới trong quản lý và giám sát cũng là một hướng đi hứa hẹn.

3.1. Hoàn thiện khung pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử

Khung pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử cần được tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa các quy định hiện hành và bổ sung những điều khoản còn thiếu. Cần có các quy định rõ ràng hơn về trách nhiệm nhà cung cấp TMĐT trong việc kiểm soát chất lượng sản phẩm, dịch vụ của người bán trên sàn, cũng như các tiêu chuẩn về bảo mật thông tin cá nhân trong TMĐT. Ngoài ra, việc quy định cụ thể hơn về hợp đồng điện tử, điều kiện giao dịch chuẩn, và các cơ chế giải quyết tranh chấp TMĐT nhanh chóng, hiệu quả là cần thiết. Cần nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về pháp luật bảo vệ NTD trong TMĐT để áp dụng những mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam, đặc biệt là tại một thị trường năng động như TP.HCM. Việc ban hành các hướng dẫn chi tiết về thực thi pháp luật cũng giúp các bên liên quan dễ dàng áp dụng hơn. Theo Nguyễn Thị Thanh Thảo (2021), việc hoàn thiện pháp luật là một trong những giải pháp trọng tâm để khắc phục những bất cập hiện tại.

3.2. Tăng cường năng lực thực thi và giải quyết tranh chấp TMĐT tại TP.HCM

Việc tăng cường năng lực thực thi pháp luật là yếu tố then chốt để pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử thực sự đi vào cuộc sống. Các cơ quan quản lý nhà nước tại TP.HCM cần được trang bị đủ nguồn lực, kiến thức chuyên môn và công cụ kỹ thuật để kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm một cách kịp thời, nghiêm minh. Đặc biệt, cần thiết lập các kênh tiếp nhận và giải quyết tranh chấp TMĐT hiệu quả, dễ tiếp cận cho người tiêu dùng, như hệ thống hòa giải trực tuyến, đường dây nóng, hoặc các trung tâm hỗ trợ người tiêu dùng chuyên biệt cho lĩnh vực TMĐT. Việc áp dụng hình thức xử phạt đủ sức răn đe cũng là một cách để nâng cao trách nhiệm nhà cung cấp TMĐT. Theo Nguyễn Thị Thu Hằng (2018), các quy định về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử cần được thực thi chặt chẽ hơn để tránh những vụ việc lộ lọt thông tin gây thiệt hại.

IV. Kinh nghiệm và bài học từ thực tiễn bảo vệ NTD trong TMĐT quốc tế cho TP

Việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển trong việc xây dựng và thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử là vô cùng quan trọng đối với TP.HCM. Nhiều quốc gia đã thiết lập các cơ chế hiệu quả để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng online, từ các quy định về minh bạch thông tin, bảo mật thông tin cá nhân trong TMĐT đến các hệ thống giải quyết tranh chấp TMĐT tiên tiến. Ví dụ, Liên minh Châu Âu với Quy định bảo vệ dữ liệu chung (GDPR) đã đặt ra những tiêu chuẩn rất cao về bảo mật dữ liệu, ảnh hưởng đến các doanh nghiệp toàn cầu. Hoa Kỳ cũng có những đạo luật cụ thể về bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến và các cơ quan như FTC (Ủy ban Thương mại Liên bang) hoạt động hiệu quả trong việc giám sát và xử lý vi phạm. Nghiên cứu những thành công và thất bại này giúp TP.HCM có cái nhìn toàn diện, từ đó lựa chọn và điều chỉnh các giải pháp phù hợp với bối cảnh và điều kiện thực tiễn của địa phương, nhằm tăng cường an toàn giao dịch trực tuyếnquyền lợi người tiêu dùng online.

4.1. Bài học về bảo mật thông tin cá nhân trong TMĐT và quyền riêng tư

Kinh nghiệm từ các nước cho thấy, việc thiết lập một khung pháp lý mạnh mẽ về bảo mật thông tin cá nhân trong TMĐT là tối quan trọng. Các quốc gia như Đức, Pháp hay Nhật Bản có những quy định rất chặt chẽ về sự đồng ý của người tiêu dùng khi thu thập dữ liệu, mục đích sử dụng thông tin và thời gian lưu trữ. Họ cũng có các cơ chế để người tiêu dùng có thể yêu cầu truy cập, chỉnh sửa hoặc xóa bỏ thông tin cá nhân của mình. Tại TP.HCM, việc áp dụng các tiêu chuẩn tương tự sẽ giúp nâng cao niềm tin của người mua sắm trực tuyến. Cần có sự đầu tư vào công nghệ bảo mật cho các trách nhiệm nhà cung cấp TMĐT và các sàn giao dịch, đồng thời tăng cường giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm. Việc công khai các trường hợp vi phạm và xử phạt nghiêm minh cũng góp phần răn đe, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật.

4.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp TMĐT và vai trò của các tổ chức độc lập

Nhiều quốc gia đã phát triển các cơ chế giải quyết tranh chấp TMĐT hiệu quả, với sự tham gia của các tổ chức trung gian độc lập. Ví dụ, các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng hoặc các ủy ban hòa giải trực tuyến đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận khiếu nại, hòa giải giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp. Điều này giúp giảm tải cho hệ thống tòa án và cung cấp một phương thức giải quyết nhanh chóng, ít tốn kém hơn cho người tiêu dùng. Tại TP.HCM, việc phát triển các tổ chức tương tự, hoặc nâng cao vai trò của các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, có thể góp phần cải thiện đáng kể khả năng giải quyết tranh chấp TMĐT. Việc công khai các quy trình giải quyết và kết quả xử lý cũng sẽ tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình của các bên liên quan, từ đó củng cố lòng tin vào pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử.

V. Triển vọng và khuyến nghị về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử tại TP

Để pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử tại TP.HCM phát huy hiệu quả tối đa, cần có những nhìn nhận và khuyến nghị mang tính chiến lược, hướng tới tương lai. Sự hợp tác giữa nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng là yếu tố then chốt. Việc tận dụng công nghệ để quản lý và giám sát thương mại điện tử, đồng thời giáo dục người tiêu dùng về quyền và nghĩa vụ của mình, sẽ tạo ra một môi trường giao dịch trực tuyến an toàn và bền vững hơn. Triển vọng của TMĐT tại TP.HCM là rất lớn, nhưng để khai thác hết tiềm năng này, việc củng cố lòng tin của người tiêu dùng là điều không thể thiếu. Các khuyến nghị cần tập trung vào việc tạo ra một hệ sinh thái pháp lý linh hoạt, có khả năng thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và các mô hình kinh doanh mới, đồng thời tăng cường cơ chế xử lý vi phạm một cách công bằng và hiệu quả. Chỉ khi đó, quyền lợi người tiêu dùng online mới thực sự được đảm bảo.

5.1. Nâng cao nhận thức và năng lực tự bảo vệ NTD trong TMĐT

Một trong những yếu tố quan trọng để tăng cường pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử là nâng cao nhận thức và năng lực tự bảo vệ của chính người tiêu dùng. Cần có các chiến dịch truyền thông rộng rãi tại TP.HCM, cung cấp thông tin về quyền lợi người tiêu dùng online, hướng dẫn cách kiểm tra thông tin sản phẩm, cách nhận biết các giao dịch lừa đảo, và quy trình khiếu nại khi gặp vấn đề. Việc giáo dục người tiêu dùng về tầm quan trọng của bảo mật thông tin cá nhân trong TMĐT và cách sử dụng các phương thức thanh toán an toàn cũng rất cần thiết. Khi người tiêu dùng có đủ kiến thức và kỹ năng, họ sẽ tự tin hơn khi tham gia vào thương mại điện tử và giảm thiểu rủi ro bị xâm phạm quyền lợi. Các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng và cơ quan quản lý cần phối hợp chặt chẽ để thực hiện hiệu quả công tác này.

5.2. Hướng tới một hệ sinh thái thương mại điện tử Việt Nam bền vững

Để xây dựng một hệ sinh thái thương mại điện tử Việt Nam bền vững, đặc biệt là tại TP.HCM, việc đảm bảo pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử là một trụ cột. Điều này đòi hỏi sự phối hợp đa chiều: nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường năng lực thực thi; các doanh nghiệp TMĐT cần nâng cao trách nhiệm nhà cung cấp TMĐT, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về minh bạch thông tin và bảo mật thông tin cá nhân trong TMĐT; và người tiêu dùng cần chủ động tìm hiểu, tự bảo vệ quyền lợi của mình. Mục tiêu là tạo ra một thị trường thương mại điện tử nơi an toàn giao dịch trực tuyến được đảm bảo, nơi quyền lợi người tiêu dùng online được tôn trọng, và nơi các giải quyết tranh chấp TMĐT diễn ra công bằng. Điều này không chỉ giúp TP.HCM duy trì vị thế dẫn đầu trong TMĐT mà còn đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế số quốc gia.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/04/2026
Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử và thực tiễn tại thành phố hồ chí minh đồ án tốt nghiệp đại học khoa luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 thì bài khóa luận đã đạt được những kết quả sau: Làm rõ được khái niệm người tiêu dùng, giao dịch thương mại điện tử. Tác giả cũng chứng minh được sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi NTD đối với nhà nước và đối với chính NTD. 16 Nguyễn Hoài Anh - Ao Thu Hoài (2010). Thương mại điện tử.

Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông. Thành phố Hồ Chí Minh. 16 Đưa ra được quy định pháp luật các nước trên thế giới cũng như nội dung pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch TMĐT của Việt Nam hiện hành. Kết quả nghiên cứu phần lý luận trên là cơ sở để tác giả tiếp tục tìm hiểu toàn diện hơn về thực trạng, thực tiễn pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch TMĐT của Việt Nam, để từ đó đưa ra được các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật.

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 2. Quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến giao dịch thương mại điện tử Quyền được thông tin của NTD trong các giao dịch thông thường được ghi nhận tại khoản 2 Điều 8 Luật BVQLNTD 2010, theo đó NTD có quyền “Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng”. Tuy nhiên, trong các giao dịch thương mại điện tử thì pháp luật bảo vệ NTD có một số điểm khác biệt: Thứ nhất, quy định tại Điều 28 NĐ 52/2013 về trách nhiệm cung cấp thông tin về tên, địa chỉ trụ sở, số điện thoại, giấy chứng nhận ĐKKD… của thương nhân, tổ chức, cá nhân sở hữu website hoặc tổ chức, thương nhân cá nhân cung ứng dịch vụ ngoài các thông tin của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định tại Luật BVQLNTD 2010. Việc quy định thêm về các thông tin sẽ giúp minh bạch các thông tin, ràng buộc các trách nhiệm của NTD và các chủ thể khác nếu xảy ra tranh chấp, thuận tiện cho NTD trong việc liên hệ, khiếu nại, giải đáp thắc mắc, đảm bảo quyền lợi khi bị xâm phạm.

Thứ hai, thông tin về hàng hóa, dịch vụ và về giá cả được quy định tại Điều 30, 31 NĐ 52/2013 thì quy định các thương nhân, tổ chức phải cung cấp chính xác các đặc tính hàng hóa, dịch vụ và phải thể hiện giá cả rõ ràng đã gồm những chi phí liên quan. Việc quy định như trên chưa đảm bảo được sự thống nhất và minh bạch vì trong các giao dịch thông thường thì hàng hóa phải có ghi nhãn hàng hóa, cung cấp hướng dẫn sử dụng, điều kiện thời gian, địa điểm bảo hành, cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng đến sức khỏe… mà trong các quy định về giao dịch điện tử thì không quy định rõ ràng về các thông tin như vậy sẽ gây ra thực trạng các hàng hóa, dịch vụ bị làm giả, kém chất lượng. Trên thực tế thì trở ngại lớn nhất của NTD khi mua hàng trực tuyến đó là lo ngại về sản phẩm kém chất lượng so với quảng cáo 18 chiếm 72% tỷ lệ NTD năm 202017. Trên các website TMĐT thường sử dụng các hình ảnh hàng thật, hàng chính hãng để quảng cáo, chào bán với giá rẻ hơn rất nhiều so với các cửa hàng, địa chỉ bán hàng chính hãng nhằm lôi kéo người tiêu dùng có nhu cầu mua sắm, sử dụng hàng hiệu nhưng với giá rẻ.

Ví dụ như vụ việc ngày 17/3/2021, Tổng cục Quản lý thị trường (QLTT) chỉ đạo Tổ 368 phối hợp với Cục QLTT Nam Định và PC 03, Công an tỉnh Nam Định đã triệt phá kho hàng hóa giả nhãn hiệu Hermès, LV, Chanel… Với các chiêu trò như sử dụng mạng xã hội để chào bán, sử dụng một cửa hàng trung gian để làm địa chỉ giới thiệu sản phẩm nhưng thực chất cửa hàng này không hề chứa bất cứ sản phẩm nào. Sau khi tiếp cận được NTD thì hàng hóa giả này sẽ được chuyển phát để vận chuyển hàng hóa18. Thứ ba, thông tin về điều kiện giao dịch chung được quy định tại Điều 32 NĐ 52/2013 “Phải công bố các chính sách hoàn trả, chính sách bảo hành sản phẩm, nghĩa vụ của người bán và người mua…”. Việc công bố các thông tin về giao dịch là hoàn toàn hợp lý, đây là cơ sở xác nhận giao dịch giữa NTD và cá nhân tổ chức kinh doanh và đồng thời là chứng cứ quan trọng để NTD có thể thực hiện việc khiếu nại hoặc khởi kiện trong trường hợp quyền lợi bị xâm phạm.

Tuy nhiên, thực tế có rất nhiều vụ việc liên quan đến không cho đồng kiểm của một số sàn giao dịch TMĐT gây khó khăn và bất lợi cho NTD khi không được kiểm tra sản phẩm xem đúng mẫu mã, chất lượng trước khi nhận hàng, nên việc không quy định về chế độ đồng kiểm nên một số người bán đã lợi dụng để bán hàng không đúng chất lượng, tráo hàng gây tổn thất cho NTD19. Thứ tư, thông tin về vận chuyển, giao nhận và phương thức thanh toán được quy định tại Điều 33, 34 NĐ 52/2013. Vì đặc trưng của TMĐT là việc giao kết từ xa nên đây là các thông tin riêng biệt và quan trọng đối với NTD, các tổ chức, cá nhân, thương nhân phải công bố về các phương thức giao hàng, thời gian ước tính giao 17 Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), “Sách trắng thương mại điện tử Việt Nam năm 2019”, http://idea.vn/?page=document, truy cập ngày 15/4/2021. 18 Tổng cục Quản lý thị trường, “Kho hàng giả nhãn hiệu Hermès lớn nhất miền Bắc bị triệt phá tại Nam Định”, https://moit.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/kho-hang-gia-nhan-hieu-hermes-lon-nhat-mien-bac-bi- triet-pha-tai-nam-%C4%91inh-21769-2801.html, truy cập ngày 23/4/2021.

19 Như Bình – Đức Thiện, “ Đồng kiểm khi mua hàng online: Không khó, nhưng sao không chịu làm?”, https://tuoitre.vn/dong-kiem-khi-mua-hang-online-khong-kho-nhung-sao-khong-chiu-lam- htm, truy cập ngày 2/5/2021. 19 hàng, giới hạn về mặt địa lý… Ngoài ra còn phải công bố các phương thức thanh toán, giải thích rõ ràng và chính xác để khách hàng có thể hiểu và lựa chọn phù hợp. Tuy nhiên, thực tế việc vận chuyển, giao nhận vẫn còn gặp nhiều bất cập khi xảy ra tranh chấp nếu lỗi thuộc về bên vận chuyển như hàng hóa bị tráo, không có chứng từ hàng hóa. Vì vậy, trong điều khoản này, pháp luật nên quy định thêm về trách nhiệm của bên cung ứng dịch vụ logistiscs trong việc cung cấp chứng từ hàng hóa giúp NTD có thể nhận đúng sản phẩm mình mong muốn, bảo đảm quyền lợi NTD khi xảy ra tranh chấp.

Một trong các quy định mới là việc quy định về trách nhiệm của bên thứ ba (các phương tiện thông tin đại chúng, các công ty quảng cáo) phải liên đới chịu trách nhiệm liên đới về chất lượng thông tin đã cung cấp cho NTD được quy định tại Điều 13 Luật BVQLNTD 2010. Tuy nhiên, trong quy định về TMĐT thì bên thứ ba ở đây được quy định tại Điểm c, Khoản 3 Điều 26 NĐ 52/3013 trường hợp người bán trực tiếp đăng thông tin về hàng hóa, dịch vụ của mình trên website thương mại điện tử thì thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử và thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng không phải là bên thứ ba cung cấp thông tin theo quy định của Luật BVQLNTD 2010. Tuy nhiên, trên thực tế trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử được quy định ở Điều 36 NĐ 52/2013 thì phải yêu cầu người bán cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD và việc đảm bảo các thông tin phải đầy đủ, chính xác là việc phát sinh ra quyền và nghĩa vụ và là trung gian cung cấp thông tin giữa người bán và NTD, vì vậy pháp luật nên quy định bên thứ ba bao gồm cả thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT để nhằm ràng buộc trách nhiệm và đảm bảo việc cung cấp thông tin theo pháp luật về BVQLTD, tăng cường trách nhiệm cho bên thứ ba trong việc kiểm chứng, xác thực thông tin về hàng hóa trước khi cung cấp tới NTD, khắc phục được việc né tránh trách nhiệm, đùn đẩy cho nhau khi bị phát hiện các sản phẩm đó được quảng cáo không đúng sự thật. Việc quy định về quyền thông tin của NTD trong giao dịch điện tử đã đảm bảo được tính hợp lý vì đã giúp NTD nắm được các thông tin cơ bản về hàng hóa, dịch vụ đầy đủ chính xác đó là yếu tố giúp NTD mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình và đồng thời góp phần giúp cân bằng về thông tin hàng 20 hóa và bảo đảm về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ tiêu dùng và cũng đảm bảo được tính minh bạch, thống nhất giữa Luật BVQLNTD 2010 và Nghị định 52/2013.

Quy định về bảo vệ thông tin cá nhân trong thương mại điện tử Về vấn đề này pháp luật Việt Nam quy định tại Mục 1 Chương 5 Nghị định 52/2013 quy định về những nội dung sau: Thứ nhất, về trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân của NTD tại Điều 68 NĐ 52/2013 đã quy định rõ trách nhiệm của thương nhân, tổ chức, cá nhân thực hiện việc thu thập thông tin và trách nhiệm khi tổ chức, cá nhân kinh doanh ủy quyền cho bên thứ ba thực hiện thu thập, lưu trữ thì phải quy định rõ trách nhiệm các bên và nếu trường hợp không quy định thì khi chính tổ chức, cá nhân kinh doanh phải chịu trách nhiệm. Việc quy định như vậy hoàn toàn hợp lý và tránh sự trốn tránh trách nhiệm. Thứ hai, về chính sách bảo vệ TTCN quy định tại Điều 69 NĐ 52/2013 “Thương nhân, tổ chức, cá nhân thu thập và sử dụng thông tin cá nhân của người tiêu dùng phải xây dựng và công bố chính sách bảo vệ thông tin cá nhân”, các nội dung phải hiển thị rõ cho NTD hoặc nếu việc thu thu thập thực hiện thông qua website thì phải được công khai ở vị trí dễ thấy. Việc bắt buộc thương nhân, tổ chức, cá nhân thu thập và sử dụng TTCN của NTD xây dựng chính sách bảo vệ TTCN là một quy định cần thiết, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, góp phần hiệu quả vào việc bảo đảm an toàn cho TTCN, ngăn ngừa các hành vi xâm phạm TTCN của NTD.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ