CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1.1 Khái quát chung về môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường 1.1 Khái quát chung về môi trường Khái niệm môi trường Môi trường là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo định nghĩa thông thường, môi trường “là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”3. Theo định nghĩa của tác giả Nguyễn Ngọc Sinh và các cộng sự trong tác phẩm “Môi trường và tài nguyên Việt Nam” 4 thì “Môi trường là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kỳ hay một xã hội”.
Luật BVMT cũng có đưa ra định nghĩa về môi trường. Tuy nhiên, định nghĩa về môi trường theo Luật BVMT có một số thay đổi về nội dung qua các lần sửa đổi, cụ thể như sau: Theo Điều 1 Luật BVMT năm 1994, thì “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”. Theo Điều 1 Luật BVMT năm 2005, thì “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” Theo Điều 1 Luật BVMT năm 2014, thì “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. Như vậy, qua các nội dung trên có thể hiểu môi trường là bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, gắn bó với con người, có ảnh hưởng và tác động đến tất cả hoạt động sống của con người.
3 Từ điển Tiếng việt, NXB Đà Nẵng 1997, tr. 618 4 Nguyễn Ngọc Sinh và các cộng sự (1984), Môi trường và Tài nguyên Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, tr.6 8 Ngoài ra, tùy vào lĩnh vực nghiên cứu hoặc cách tiếp cận của các chủ thể mà có các khái niệm khác về môi trường. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, định nghĩa trong Luật BVMT 2014 nói trên là đầy đủ nội hàm pháp lý cần thiết cho khái niệm. Do vậy, đây có thể được sử dụng chính thức trong các nghiên cứu về BVMT.
Thành phần môi trường Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật BVMT năm 2014 “Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác”. Sự xác định thành phần môi trường trong quy định trên có tác dụng giới hạn các hành vi của con người trong tác động đến môi trường. Cụ thể là những hành vi nào con người được phép làm trong quá trình phát triển kinh tế, những giới hạn nào cho việc con người không được phép tiến hành trong bảo vệ các yêu tố cấu thành nên môi trường. Các chức năng cơ bản của môi trường Theo quyển “Kinh tế môi trường” của tác giả Đoàn Thị Lan Phương thì môi trường có những chức năng cơ bản sau5: Thứ nhất, môi trường là nơi sinh sống của con người và các loài sinh vật trên trái đất, tất cả những điều kiện sống cơ bản, cần thiết cho con người và các loài sinh vật như không khí, nước, ánh sáng, động, thực vật.
đều do môi trường cung cấp. Thứ hai, môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cho quá trình tồn tại và phát triển của con người. Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người đã khai thác và sử dụng rất nhiều tài nguyên như: đất, đá, tre, nứa; các loại nguyên, nhiên vật liệu; năng lượng và chính môi trường là nơi cung cấp tất cả những thứ này. Thứ ba, môi trường là nơi thu nhận toàn bộ các chất phế thải do con người thải ra.
Tất cả các chất phế thải được tạo ra trong quá trình sinh sống và hoạt động của con người đều đưa vào môi trường và chỉ có môi trường mới có khả năng thu nhận và chứa đựng các chất phế thải này. Thứ tư, nhờ môi trường các tác động có hại của thiên nhiên đến con người nói riêng và tất cả các sinh vật sống trên trái đất nói chung sẽ được giảm nhẹ. Các thành phần của môi trường đã hạn chế sự tác động tiêu cực của thiên nhiên, giúp cho tất cả sinh vật sống trên quả địa cầu (bao gồm con người) có thể tồn tại và phát triển, thậm chí cả trong những điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt. Thứ năm, môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
5 Đoàn Thị Lan Phương (năm 2011), Kinh tế môi trường, NXB Thông tin và Truyền thông 9 Môi trường ghi chép và lưu trữ đầy đủ quá trình phát triển của địa chất cùng quá trình tiến hóa, phát triển của vật chất và tất cả sinh vật trên trái đất. Đôi lúc, cũng nhờ vào môi trường mà con người có thể đoán trước được các hiện tượng thiên nhiên đặc biệt như bão, động đất,.… Với những chức năng quan trọng như trên, môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với toàn bộ quá trình tồn tại của xã hội. Do vậy, sự tác động đến môi trường trong quá trình vận hành của nền kinh tế cần thiết được kiểm soát chặt chẽ để sự phát triển có thể ổn định trong lâu dài và mang lại lợi ích thiết thực cho con người. Hoạt động bảo vệ môi trường Theo định nghĩa tại khoản 3 Điều 3 Luật BVMT 2014 thì “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nghiễm, suy thoái, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhằm giữ môi trường trong lành”.
Định nghĩa này có ý nghĩa xác định các nghĩa vụ của con người, của công dân trong vấn đề bảo vệ môi trường. Các nghĩa vụ này sẽ là cơ sở cho việc triển khai trên thực tế cho tất cả các hoạt động của con người, trong đó có vấn đề triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế, xác định các nghĩa vụ cụ thể mà các chủ thể trong phát triển kinh tế cần tiến hành để bảo vệ môi trường, bởi vì bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động kinh tế cũng chính là bảo vệ nguồn tài nguyên cho phát triển ổn định và lâu dài. Nguyên tắc bảo vệ môi trường Trên cơ sở sự xác định về các hành vi cần thực hiện trong tổng thể hoạt động bảo vệ môi trường nói trên, Luật BVMT cũng xác định những nguyên tắc mang tính định hướng cho hoạt động bảo vệ môi trường. Nguyên tắc BVMT được quy định tại Điều 4 Luật BVMT năm 2014, gồm có 08 nguyên tắc sau: “1.
Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành. Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải. Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; Bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia.
Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật”.
Các nguyên tắc này là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc cụ thể hoá thành các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong bảo vệ môi trường. Đồng thời, Luật BVMT năm 2014 cũng xác định những hoạt động BVMT được khuyến khích thực hiện. Những hoạt động BVMT được khuyến khích được quy định tại Điều 6 Luật BVMT năm 2014. Sự xác định những hoạt động BVMT được khuyến khích trong quy định trên có tác dụng rất quan trọng trong việc tạo lập cơ sở pháp lý đối với những hành vi có lợi cho môi trường, khuyến khích cộng đồng nói chung và các tổ chức kinh tế, công dân nói riêng tham gia bảo vệ môi trường thông qua việc nghiên cứu, áp dụng những kỹ thuật công nghệ tiến bộ, sản xuất, chế biến và sử dụng những sản phẩm thân thiện với môi trường.
Ý nghĩa của hoạt động bảo vệ môi trường Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề môi trường bị ô nhiễm, suy thoái dường như xảy ra ở hàng loạt các quốc gia, các khu vực trên thế giới với mức độ ngày càng nghiêm trọng, phức tạp và khó khắc phục hơn. BVMT đã trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết nhất và yêu cầu này không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia, một khu vực mà nó đã vượt ra khỏi những giới hạn đó, trở thành mối quan tâm chung của cộng đồng. Điều này xuất phát từ vai trò của môi trường đối với sự tồn tại và phát triển của tất cả các sinh vật trên trái đất. Môi trường gắn bó với sự sinh sôi, nảy nở và 11 phát triển của toàn bộ sinh vật sống trên trái đất.
Con người nói riêng và tất cả các sinh vật sống trên trái đất nói chung nếu muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào môi trường, không thể sống tách rời môi trường.