Chương 1: Tổng quan pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer 1. Khái quát chung pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer 1. Khái niệm dân tộc và dân tộc thiểu số 1. Khái niệm dân tộc.
Trong lịch sử nhân loại, khái niệm dân tộc đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nhƣng cho đến nay, dân tộc đƣợc hiểu theo hai nghĩa cơ bản nhƣ sau: Nghĩa hẹp: Dân tộc là tên chỉ cộng đồng ngƣời hình thành và phát triển trong lịch sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nƣớc1. Trong xã hội nguyên thuỷ đã có thị tộc (gồm các thành viên có mối quan hệ huyết thống), còn bộ lạc (gồm những ngƣời có cùng họ và khác họ sinh sống trên một địa bàn). Họ phải lao động và sản xuất để tự nuôi sống bản thân, dần dần con ngƣời cũng phát triển theo, cùng với những đặc trƣng cơ bản nhƣ: có ngôn ngữ, có những nét đặc trƣng về văn hóa ., hình thức của cộng đồng ngƣời cũng có sự tiến hóa nhƣ: từ sống phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, từ đó hình thành nên cộng đồng tộc ngƣời và những dân tộc khác nhau cùng sinh sống trên một địa bàn (phum, sóc) nhƣ hiện nay. Nhƣ vậy, dân tộc là một cộng đồng ngƣời cùng chung một lịch sử, sống chung trên một lãnh thổ quốc gia, nói chung một ngôn ngữ, có chung một nền văn hoá; là tổng hợp các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra.
Văn hóa của các dân tộc có những nét chung giống nhau, nhƣng cũng có những nét đặc trƣng riêng gọi là bản sắc dân tộc; bản sắc dân tộc tạo ra tính đa dạng, phong phú của nền văn hóa nhân loại nhƣ ở Việt Nam gồm có 54 dân tộc cùng sinh sống và phát triển. Về xã hội, dân tộc không phải lúc nào cũng trùng hợp với khái niệm quốc gia theo nghĩa cộng đồng chính trị - xã hội đƣợc quản lý bằng bộ máy nhà nƣớc. Trên thực tế vẫn có quốc gia chỉ có một dân tộc (nhƣ Triều Tiên trƣớc khi bị 1 Phạm Huy Châu (2007), Về khái niệm dân tộc và chủ nghĩa dân tộc, Tạp chí Triết học, số 11 (198), tháng 11 – 2007, xem tại http://philosophy.vn/nghien-cuu-theo-chuyen-de/Triet-hoc-Van-hoa/Ve-khai- niem-dan-toc-va-chu-nghia-dan-toc-461.html 10 chia cắt), song phần lớn là những quốc gia đa dân tộc. Bên cạnh đó, cũng có những dân tộc sống phân tán ở những quốc gia khác nhau trên thế giới.
Trong lịch sử, hình thành và phát triển các dân tộc không đồng đều nhau, nhƣ về thời gian, quy mô dân số, sức sống và trình độ. Có nhiều dân tộc tự phát và họ liên kết với nhau, hòa nhập vào nhau hoặc đồng hóa, thôn tính lẫn nhau. Xu thế lịch sử của dân tộc là cần phải có nhà nƣớc để bảo vệ lãnh thổ quốc gia của mình. Ý thức về chủ quyền lãnh thổ của các dân tộc phát triển thành ý thức quốc gia dân tộc hay chủ nghĩa yêu nƣớc.
Bản thân nhà nƣớc, đến lƣợt nó, lại có những tác động trở lại nhằm củng cố sự đoàn kết dân tộc, sự thống nhất nhiều dân tộc trong biên giới và lãnh thổ của mình2. Nghĩa rộng: Dân tộc chỉ một cộng đồng ngƣời ổn định làm thành nhân dân một nƣớc, có lãnh thổ quốc gia, có nền kinh tế riêng thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nƣớc và giữ nƣớc. Nhƣ vậy, theo nghĩa này, dân tộc (DT) là dân cƣ của toàn bộ nhân dân, của quốc gia nhất định, là quốc gia - dân tộc3. Từ khái niệm nhƣ đã nêu trên, trong luận văn này, khái niệm dân tộc đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp (nghĩa thứ nhất).
Khái niệm dân tộc thiểu số. Nhƣ đã nêu ở khái niệm dân tộc, quá trình hình thành và phát triển của các dân tộc là rất không đồng đều cả về thời gian, quy mô, sức sống lẫn trình độ. Sự không đồng đều này do rất nhiều những yếu tố khác nhau chi phối nhƣ: hình thành vào thời gian khác nhau, tại không gian có những điều kiện tự nhiên và xã hội không nhƣ nhau, tồn tại và phát triển bên cạnh những dân tộc không giống nhau,. Một dân tộc hình thành đúng thời điểm lịch sử, có điều kiện tự nhiên và xã hội tốt, tồn tại bên cạnh những dân tộc có thể chất không mạnh hơn mình sẽ sinh sôi đông đúc; dân tộc khác không đƣợc nhƣ vậy thì ngƣợc lại, quy mô ngày càng bị thu nhỏ, thậm chí bị diệt chủng vì hôn nhân cận huyết.
Cùng tần suất, dân tộc có quy mô lớn và sức sống mạnh luôn xuất hiện nhiều thiên tài hơn và do đó hết sức thuận lợi để 2 Phạm Huy Châu (2007), Về khái niệm dân tộc và chủ nghĩa dân tộc, Tạp chí Triết học, số 11/2007, (198). 3 Phạm Huy Châu (2007), Về khái niệm dân tộc và chủ nghĩa dân tộc, Tạp chí Triết học, số 11 (198), tháng 11 – 2007, xem tại http://philosophy.vn/nghien-cuu-theo-chuyen-de/Triet-hoc-Van-hoa/Ve-khai- niem-dan-toc-va-chu-nghia-dan-toc-461.html 11 thúc đẩy dân tộc đó phát triển về trình độ. Trở lại, dân tộc có sự phát triển về trình độ lại có cơ hội rõ rệt để tăng nhanh quy mô và sức sống. Điều này đã làm cho trên thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng, quy mô và trình độ của các dân tộc là rất khác nhau.
Tại mỗi quốc gia, xét về quy mô, dân tộc nào có quy mô lớn nhất đƣợc gọi là dân tộc đa số, các dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số. Mặc dù chỉ dựa và số lƣợng thành viên để phân biệt dân tộc đa số và dân tộc thiểu số, nhƣng nhƣ đã trình bày thì các dân tộc thiểu số thƣờng thua sút dân tộc đa số về trình độ phát triển, thậm chí có những dân tộc thiểu số có trình độ hết sức lạc hậu, chỉ ở mức cao hơn trình độ bộ lạc, bộ tộc của xã hội nguyên thủy. Chẳng hạn nhƣ dân tộc Ơ Đu đƣợc phát hiện trong rừng sâu miền tây tỉnh Quảng Bình đến thời điểm điều tra dân số năm 2014 chỉ còn 376 ngƣời và nhờ sự giúp đỡ của cộng đồng mới có thể định cƣ thành làng bản. Nhằm tránh kỳ thị dân tộc, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác Dân tộc đã định nghĩa dân tộc thiểu số nhƣ sau: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” 4.
Khái niệm an sinh và an sinh xã hội 1. Khái niệm an sinh. An sinh là khái niệm nảy sinh trong đời sống xã hội phƣơng Tây từ lâu và xuất hiện đầu những năm 70 trong một số nghiên cứu về pháp luật của các học giả Sài Gòn. Sau năm 1975, trên thế giới, thuật ngữ này đƣợc dùng nhiều hơn trên và ở nƣớc ta, từ giữa những năm 90 của thế kỷ trƣớc trở lại đây đƣợc dùng rộng rãi hơn.
Do tiếng Việt chƣa có từ tƣơng ứng hoàn toàn với từ tiếng Anh “security” nên từ này có thể dịch là “an toàn”, “an ninh”, “bảo đảm”,. nhƣng từ ít bị hiểu chệch nghĩa nhất là “an sinh”, bởi theo nghĩa gốc Hán của từ thì “an sinh” có thể đƣợc diễn giải là an toàn sinh sống, cuộc sống. Có thể tạm thời chia cuộc sống sinh học và xã hội của con ngƣời thành hai nửa tác động qua lại: một nửa là an sinh, nửa kia là phát triển. Nửa an sinh là bảo đảm an toàn và tạo cơ sở để phát triển cuộc sống sinh học và xã hội con ngƣời và nửa phát triển, trở lại tạo những điều kiện cho cuộc sống sinh học và xã hội con ngƣời ngày càng bảo đảm an toàn hơn.
4 Khoản 2, Điều 4, (2011), Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác Dân tộc. 12 Vì thế, hiểu một cách khái quát nhất thì an sinh là bảo đảm an toàn và tạo cơ sở để phát triển cuộc sống sinh học và xã hội con ngƣời. Khái niệm an sinh xã hội. Con ngƣời tồn tại với tƣ cách là cá nhân, nhƣng không một cá nhân nào có thể phát triển và sống đúng nghĩa con ngƣời nếu không có những quan hệ với các cá nhân khác, với cộng đồng xã hội.
Xã hội là bao gồm những cá nhân nhƣng không phải là tập hợp hỗn độn mà luôn có các thiết chế duy trì và bảo vệ trật tự, làm cho các cá nhân gắn bó, chia xẻ với nhau. Trong quá trình xã hội đó, các cá nhân không tránh khỏi những rủi ro, mất mát về vật chất và tinh thần, ảnh hƣởng đến đời sống bình thƣờng, thậm chí là tính mạng của họ. Do đó, những đảm bảo từ xã hội bằng những nguồn lực công cộng để giảm thiểu những mất mát, rủi ro nhƣ vậy cho mỗi cá nhân chính là những hình thức của an sinh xã hội. Trong thực tiễn đời sống của nhân loại, do sự đa dạng về nội dung, phƣơng thức và góc độ tiếp cận sự tồn tại của con ngƣời nên hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về an sinh xã hội.
Tuy nhiên, đây chỉ là cách diễn đạt đơn giản. Thực tế của vấn đề an sinh xã hội lại có nhiều quan điểm khác nhau xuất phát những thế giới quan của từng cộng đồng ngƣời, nhân sinh quan của từng ngƣời. Một cách ngắn gọn, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: An sinh xã hội (ASXH) là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đƣơng đầu và kiềm chế đƣợc nguy cơ tác động đến thu nhập để giảm tính dễ bị tổn thƣơng và những bấp bênh thu nhập5. Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên trong xã hội.
Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua bảo hiểm y tế; hệ thống bảo hiểm xã hội, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội. Ở Việt Nam, mặc dù an sinh xã hội là một lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhƣng cũng đã dành đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đặc biệt là sự quan tâm của các nhà quản lý trong xây dựng Chiến lƣợc thực hiện chính sách của Việt Nam.