Mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 12 Chƣơng 1 CHẤT LƢỢNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN LÀ NGƢỜI DÂN TỘC KHMER CỦA CÁC ĐẢNG BỘ XÃ Ở TỈNH BẠC LIÊU - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các đảng bộ xã và chất lƣợng công tác phát triển đảng viên là ngƣời dân tộc Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu 1. Các đảng bộ xã và công tác phát triển đảng viên là người dân tộc Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu * Khái quát về tỉnh Bạc Liêu.
Bạc Liêu là tỉnh thuộc bán đảo Cà Mau miền đất cực Nam của Tổ quốc. Cách thành phố Hồ Chí Minh 280 km, thành phố Cần Thơ 110 km về phía Bắc và cách thành phố Cà Mau 67 km về phía Nam. Phía Bắc giáp các tỉnh Hậu Giang và Kiên Giang, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cà Mau, Đông và Đông Nam giáp biển Đông. Bạc Liêu có diện tích tự nhiên 2.570 km2, bằng 1/16 diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Có bờ biển dài 56 km, với các cửa biển quan trọng như: Gành Hào, Cái Cùng, Nhà Mát, là nơi trung chuyển hàng hóa của nhiều cơ sở kinh tế trong và ngoài tỉnh. Theo số liệu thống kê dân số tỉnh Bạc Liêu năm 2010 là 867.750 người, bằng 5,02% dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long và gần bằng 1% dân số cả nước. Mật độ dân số trung bình là 338 người/km2. Về giới tính, dân số nam chiếm 49,85%, nữ chiếm 50,15%.
Dân số khu vực thành thị là 26,53%, khu vực nông thôn là 73,47%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,22%. Trong các dân tộc sinh sống ở Bạc Liêu, người kinh có 779.910 người, chiếm 89,87%; người Khmer có 67.625 người, chiếm 7,79%; người Hoa 20.215 người, chiếm 2,34%, còn lại là các dân tộc khác. Bạc Liêu hiện có 06 huyện và 01 thành phố thuộc tỉnh gồm: huyện Vĩnh Lợi, Hòa Bình, Hồng Dân, Phước Long, Đông Hải, Giá Rai và thành phố Bạc Liêu; có 64 đơn vị cấp xã (xã, phường, thị trấn).
Trong đó, có 07 phường, 07 thị trấn và 50 xã. Luan van 13 Kinh tế, xã hội ở Bạc Liêu những năm gần đây có sự phát triển. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2006 - 2010 là 11,57%/năm. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng, các ngành phi nông nghiệp phát triển nhanh theo hướng hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn để thu hút lao động, nâng cao mức sống nhân dân.
Văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, hạ tầng cơ sở điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế. đã được đầu tư xây dựng đồng bộ. Các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh phần lớn sống đan xen trong cộng đồng, chung sống thuận hòa, cùng nhau lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống. Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán, trình độ phát triển không đồng đều nên người dân tộc Khmer phần đông có đời sống khó khăn hơn các dân tộc khác.
Người Hoa tập trung nhiều ở các đô thị, hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và buôn bán có mức thu nhập khá hơn. Trong khi đó người Khmer sinh sống tập trung ở các phum, sóc, ở vùng sâu, vùng xa, đời sống gặp nhiều khó khăn. Những năm gần đây, nhờ chương trình 134, chương trình 135 đã được đầu tư nhiều công trình phục vụ sản xuất và dân sinh nên cuộc sống của đồng bào Khmer đã được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo người dân tộc Khmer năm 2000 là 72% đến năm 2010 giảm xuống còn 26%, cơ bản được giải quyết về nhà ở, đất sản xuất và việc làm. Tuy nhiên, tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh Bạc Liêu vẫn còn nhiều khó khăn, chậm phát triển so với các tỉnh bạn trong khu vực.
Đời sống một bộ phận nhân dân cũng còn nghèo, đặc biệt là vùng sâu, vùng căn cứ kháng chiến cũ, vùng đồng bào dân tộc Khmer. Khoảng cách giàu nghèo ở vùng nông thôn so với thành thị ngày càng tăng; số lao động không có việc làm và việc làm không ổn định, nhất là một tỉnh thế mạnh chủ yếu là sản xuất nông nghiệp nhưng trước tình hình sản xuất nông nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn như hiện nay là những vấn đề nan giải đang đặt ra đối với cấp ủy, chính quyền cần phải giải quyết. Luan van 14 Mặt khác, HTCT ở cơ sở tuy đã được thường xuyên củng cố, xây dựng, nhưng chưa thật hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới. Chất lượng TCCSĐ và đảng viên còn nhiều hạn chế, là một tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống nhưng tổ chức đảng và đảng viên là người Khmer ít, chất lượng thấp.
Bên cạnh đó, tình hình trong dân tộc Khmer nổi lên một số vấn đề nhạy cảm, phức tạp, một số đối tượng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo phản động, chống phá Đảng và nhà nước ta, chúng mốc nối, cài cắm lực lượng ngầm, lôi kéo, mua chuộc, dụ dỗ đồng bào trong dân tộc Khmer khiếu kiện, vượt biên qua biên giới Campuchia trái phép, kích động đấu tranh đòi lại cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm”, gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Những đặc điểm trên đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để xác định đúng nội dung, yêu cầu và đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng CTPTĐV là người dân tộc Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay. * Đặc điểm tình hình dân tộc Khmer các xã ở tỉnh Bạc Liêu. Đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Bạc Liêu có 67.625 người, chiếm gần 7,79% dân số toàn tỉnh, đa số đồng bào sinh sống tại các xã, ấp vùng sâu, vùng xa, có đời sống kinh tế khó khăn.
Đồng bào dân tộc Khmer có phong tục, tập quán và đặc trưng văn hóa riêng, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa đa dạng ở Bạc Liêu. Các xã có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống như: xã Hưng Hội của huyện Vĩnh Lợi; xã Vĩnh Bình của huyện Hòa Bình; xã Lộc Ninh của huyện Hồng Dân. Dân tộc Khmer có truyền thống văn hóa lâu đời. Trong quá trình phát triển, văn hóa dân tộc Khmer đã định hình và phản ánh thực tế văn hóa phong phú và đa dạng của nhiều thế hệ người Khmer.
Đó là việc hình thành và phát Luan van 15 triển hệ thống chữ viết, phong tục, tập quán, lối sống, tôn giáo, tín ngưỡng và lễ nghi của dân tộc mình. Đặc trưng nổi bật trong lối sống của đồng bào dân tộc Khmer là hình thức tổ chức cư trú theo phum, sóc. Phum, sóc là những đơn vị cư trú trong tổ chức xã hội cổ truyền của đồng bào dân tộc Khmer, ràng buộc nhau bởi các quan hệ về phong tục, tập quán, lễ nghi mà ngôi chùa là trung tâm điều khiển. Theo truyền thống, việc quản lý phum, sóc thuộc về một Ban quản trị mà người đứng đầu được gọi là “Mê phum”, “Mê sóc”.
Những thành viên trong Ban quản trị được nhân dân tuyển chọn trong số những người đàn ông lớn tuổi, có uy tín, có trình độ học vấn, hiểu biết phong tục, tập quán của cộng đồng và có tinh thần trách nhiệm cao đối với người dân. Trách nhiệm của Ban quản trị, Mê phum, Mê sóc là thay mặt nhân dân trong phum, sóc điều hành các công việc chung của phum, sóc, quan hệ với các cộng đồng bên ngoài; đặc biệt là quan hệ với nhà chùa. Chùa Khmer là ngôi nhà chung của đồng bào dân tộc Khmer, nơi họ gửi gắm hầu như trọn vẹn niềm tin, sự kính trọng vào Đức Phật, mà hiện thân trực tiếp là các vị Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, nhà sư… Đối với mỗi người dân Khmer, những sinh hoạt nghi lễ trong nhà chùa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về tâm linh. Mỗi người có thể ít nhiều hoặc không tham gia các công việc của xã, ấp, nhưng không thể không tham gia công việc của nhà chùa, vì lợi ích tinh thần của họ hầu như gắn bó với chùa nhiều hơn là gắn bó với xã, ấp.
Mặc dù đang sống trong một xã hội hiện đại với nhiều nét đổi thay do công cuộc đổi mới đất nước đem lại, song các thiết chế văn hóa, xã hội cổ truyền vẫn đang ảnh hưởng và chi phối cuộc sống hằng ngày của người dân Khmer. Trong lối sống của đồng bào dân tộc Khmer nổi bật là tính cộng đồng, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau; đồng bào luôn cần cù trong lao động sản xuất, chịu thương, chịu khó. Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, nhất là từ khi thực hiện Chỉ thị 68-CT/TW, ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư (khóa VI) về công tác ở vùng Luan van 16 đồng bào dân tộc Khmer, Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về công tác dân tộc, các chương trình mục tiêu quốc gia 134, 135… nên đời sống mọi mặt trong đồng bào dân tộc Khmer có sự thay đổi rõ rệt, trình độ dân trí được nâng cao đáng kể, đẩy lùi các hủ tục lạc lậu. Trong đó, đi đầu là lực lượng thanh niên trẻ họ không những hăng hái trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế mà còn tích cực trong các phong trào của Đoàn, của Hội.
Từ những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, ngày nay đồng bào dân tộc Khmer luôn mở rộng giao lưu về văn hóa - xã hội, làm ăn kinh tế và đồng bào đang tiếp cận dần với nền kinh tế thị trường. Nhiều tấm gương, mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi là người dân tộc Khmer xuất hiện. Điều đó chứng tỏ đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Bạc Liêu đã và đang phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mình trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước. Đời sống vật chất được nâng lên, góp phần làm cho đời sống tinh thần trong đồng bào dân tộc Khmer thêm phong phú.
Họ rất phấn khởi, tin tưởng vào Đảng và chính quyền, do vậy đồng bào đã tham gia tích cực vào các tổ chức chính trị - xã hội, như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân…, các đoàn viên, hội viên ngày càng có xu hướng tích cực phấn đấu vào Đảng. * Các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu - Đặc điểm, vai trò, chức năng, nhiệm vụ.